Posts tagged tuyển sinh
Đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào giáo dục
Dec 13th
Đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục và đào tạo ,trong đó có bậc THPT từ năm học 2010-2011.
“Bội thực” chương trình lồng ghép
So với chương trình cải cách trước đây, chương trình phân ban ở bậc THPT hiện nay, thì về cơ cấu số tiết, nội dung bài học ở từng môn có phần hợp lý và gọn gàng hơn. Nhưng số lượng các môn học, các hoạt động bắt buộc lại tăng lên, thêm vào: môn tin học, giáo dục quốc phòng và an ninh, hướng nghiệp dạy nghề và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nếu như trước đây, mỗi khối chỉ học một buổi sáng hoặc chiều là đủ thì bây giờ, ngoài học một buổi, mỗi tuần các em phải học thêm từ 1 đến 2 buổi nữa. Ngoài áp lực quá tải về chương trình, học sinh còn chịu thêm những sức ép, đòi hỏi khác của nhà trường, của mỗi thầy cô giáo chủ nhiệm, bộ môn. Như vậy, học sinh đang phải chịu đến mấy tầng bị dồn ép, nhồi nhét về mặt học tập. Nay lại thêm một bộ môn Phòng chống tham nhũng (PCTN) vào nữa thì vô hình trung chúng ta “hành xác” con em đến mức quá đáng. Do đó, theo các chuyên gia soạn thảo đề án có ý đưa nó dạy theo kiểu lồng ghép, tích hợp vào môn giáo dục công dân hoặc các môn học xã hội khác phù hợp với điều kiện giảng dạy của từng môn và không tạo thành các môn học riêng.
Ý này cũng đồng với quan điểm của nhiều cán bộ quản lý và thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy mà chúng tôi có dịp trao đổi, chia sẻ. Thầy Trần Thanh Hậu, giáo viên Sử- giáo dục công dân, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) cho biết: Nội dung PCTN nên đưa toàn bộ vào bộ môn GDCD là hợp lý, đừng nên dây qua các các môn xã hội khác. Nhưng tôi e rằng đưa nó vào môn này thì có phần lõang, vì hiện tại, bộ môn GDCD là một bộ môn có số lượng nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào loại nhiều nhất, nào là bảo vệ môi trường, nào là an toàn giao thông, nào là giáo dục giới tính, nào là sức khỏe sinh sản vị thanh niên…Vả lại ,qua thực tế giảng dạy nhiều năm, chúng tôi nhận thấy, đưa những vấn đề, nội dung dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào bộ môn GDCD thường chưa đạt yêu cầu, còn mang nặng tính hình thức. Bởi lẽ, bản thân nội dung, kiến thức ở bài đó, bài kia trong sách giáo khoa, sách giáo viên, thầy cô giáo chưa truyền tải hết được ( do quá dài) thì lấy đâu thời giờ để lồng ghép, tích hợp nội dung đã vào. Lần nào tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề cũng yêu cầu giáo viên phải dạy lồng ghép nhưng thầy cô giáo không dạy thì đành chịu thôi, do chẳng có qui định ràng buộc nào cả, trừ khi có người dự giờ, có thái độ đánh giá nghiêm túc”.
Bỏ một số bài, đưa nội dung PCTN vào
Không chỉ riêng gì môn GDCD, các nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, tích hợp đối với môn Ngữ văn ( về bảo vệ môi trường), môn sinh học ( về giới tính, sức khỏe sinh sản), môn lịch sử ( về lịch sử địa phương)… cũng nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế. Xuất phát từ thực tế đấy, nội dung PCTN đưa vào dạy kiểu lồng ghép, tích hợp là không ổn, cần tách ra thành những bài riêng biệt, để dạy những kiến thức căn bản, tập trung hơn, thầy cô giáo khó thể phớt lờ hoặc bỏ qua được. Tất nhiên, cắt giảm bớt một số bài thuộc về chương trình GDCD ở ba khối. Nhiều giáo viên giảng dạy môn GDCD đề xuất: “Các em lớp 10, còn nhỏ quá, chưa cần đưa PCTN vào, nên bắt đầu từ học sinh lớp 11 là thích hợp với nội dung bài và tâm lý lứa tuổi. GDCD lớp 11, dạy về công dân với kinh tế, với các vấn đề chính trị- xã hội, thì bỏ đi bài Chính sách quốc phòng và an ninh, trang 110 ( vì nội dung này được học kĩ ở bộ môn giáo dục quốc phòng và an ninh rồi) , GDCD lớp 12 dạy học các vấn đề công dân liên quan đến pháp luật, các bài 1, bài 2, bài 3 có một số nội dung na ná giống nhau nên gom lại để nhường “đất” cho nội dung PCTN. Mỗi khối một bài, mỗi bài từ 2 đến 3 tiết là quá đủ”.
Có chế độ bồi dưỡng
Bên cạnh giảng dạy nội dung phòng, chống tham nhũng còn cần được tuyên truyền, giáo dục qua nhiều hình thức, hoạt động đa dạng và phong phú khác như hoạt động ngoại hóa, nói chuyện trước cờ, xây dựng tờ tin nội bộ… Để đạt được hiệu quả tốt cho nội dung này, ban soạn thảo đề án phải phối hợp với bộ giáo dục, các trường đại học…phải có sự chuẩn bị tốt từ khâu biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giảng dạy PCTN cho tất các thầy giáo dạy bộ môn GDCD và đội ngũ cán bộ quản lý, ban giám hiệu các trường, lãnh đạo các sở giáo dục( để thành phần này có nhận thức đầy đủ và biết cách điều hành, triển khai thực hiện.).GDCD- một môn học, mỗi tuần chỉ có 1 tiết mà lại có quá nhiều nội dung khác của xã hội nhờ cậy, gởi gắm vào đó cả, thực sự tạo ra những gánh nặng, áp lực lớn đối với các thầy cô giáo môn học ấy. Phần lớn các trường đại học sư phạm lâu nay đào tạo sinh viên vừa dạy lịch sử vừa dạy giáo dục công dân. Khi vào nghề, các trường thường phân công dạy cả hai: môn lịch sử lẫn công dân. Hơn nữa, giáo dục PCTN là một nội dung mới lạ, khó hiểu, khô khan đối với lứa tuổi học sinh bậc THPT, để dạy cho hay, cho được thì không dễ dàng chút nào, đòi hỏi nhiều ở tâm huyết, trách nhiệm và trình độ tay nghề, kiến thức tốt của đội ngũ thầy cô môn GDCD. Thiết nghĩ, Bộ giáo dục cần có chế độ bồi dưỡng thêm cho họ ( vì hầu hết giáo viên dạy sử- GDCD chỉ sống bằng đồng lương hạn hẹp, không thể dạy thêm, dạy phụ đạo như các môn tự nhiên được), nhằm kịp thời động viên, khích lệ, tiếp sức cho họ thêm yên tâm, phấn khởi, say mê với nghề, với học sinh.
Đỗ Tấn Ngọc
Quảng Ngãi
LTS Dân trí - Bài viết trên đây phản ánh đúng băn khoăn của nhiều giáo viên khi phải lồng ghép nhiều nội dung mới vào môn học hoặc đưa thêm môn học mới vào chương trình (như môn Phòng chống tham nhũng) mà thiếu sự chuẩn bị chu đáo. Điều đó dẫn tới tình trạng không bảo đảm chất lượng dạy và học những nội dung mới hoặc môn học mới; hơn nữa, còn làm ảnh hưởng đến chất lượng những môn học khác vì chương trình học phải “lồng ghép” quá nhiều nội dung mà sức tiếp thu của học sinh chỉ có hạn.
Vì vậy, khi đưa thêm nội dung mới vào chương trình giáo dục nói chung cũng như chương trình THPT nói riêng đều cần xem xét toàn bộ chương trình đã quá tải hay chưa, cần bớt nội dung của môn học nào để thêm nội dung mới cần thiết hơn?
Theo Dân trí
Chỉ tiêu tuyển sinh năm 2011 của 22 trường ĐH
Nov 23rd
Năm 2011, chỉ tiêu tuyển sinh của nhiều trường ĐH tiếp tục giữ số lượng như năm trước để đảm bảo chất lượng nhưng có trường lại đề nghị Bộ GD-ĐT tăng lên khoảng 20% chỉ tiêu, trong khi đó Bộ quy định các trường chỉ được tăng chỉ tiêu mức cao nhất là 7%.
2. Học viện Quản lý giáo dục: Dự kiến tuyển 850 chỉ tiêu và mở một số ngành mới.
3. Đại học Công nghiệp Hà Nội: Theo lãnh đạo nhà trường, chỉ tiêu tuyển sinh 2011 tăng từ 5 – 7%. Theo đó, hệ ĐH: 4.500 chỉ tiêu; hệ CĐ: 4.500 chỉ tiêu, hệ Trung cấp chuyên nghiệp 2.500 chỉ tiêu.
4. Đại học Điện lực: Theo lãnh đạo nhà trường, đang xin Bộ GD-ĐT dự kiến tăng 20% chỉ tiêu năm 2011, là 1.800.
5. Đại học Điều dưỡng Nam Định: Tăng 50 chỉ tiêu hệ ĐH. Theo đó, tổng chỉ tiêu tuyển sinh năm 2011 là 1.400.
6. Đại học Lâm nghiệp: Ông Nguyễn Văn Điển, trưởng phòng đào tạo nhà trường cho biết dự kiến tăng 300 chỉ tiêu năm 2011. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh năm 2011 là 1.900.
7. Đại học Luật Hà Nội: Ông Nguyễn Ngọc Hòa, phó hiệu trưởng nhà trường, cho biết dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh của trường năm 2011 tăng 7%. Chỉ tiêu năm 2010 của trường là 1.800 chỉ tiêu.
8. ĐH Sư phạm Hà Nội: Dự kiến tuyển 2.500 chỉ tiêu, tăng hơn năm trước. Tuyển 60 thí sinh hệ CĐ đào tạo nhân viên thiết bị trường học.
9. ĐH Đà Nẵng: Dự kiến chỉ tiêu năm 2011, tuyển 11.150 chỉ tiêu, trong đó 9.050 bậc ĐH và 2.100 bậc CĐ. Cụ thể: ĐH Bách khoa: 3.260; ĐH Kinh tế: 2.250; ĐH Ngoại ngữ: 1.430; ĐH Sư phạm: 1.600; Phân hiệu tại Kon Tum: 510; CĐ Công nghệ: 1.500; CĐ Công nghệ thông tin: 600.
10. ĐH Kinh tế TPHCM: Dự kiến tuyển 4.500 chỉ tiêu, tăng 200 chỉ tiêu so với năm 2010.
11. ĐH Luật TPHCM: Dự kiến tuyển 1.870 chỉ tiêu, trong đó có 1.670 chỉ tiêu ngành Luật và 200 chỉ tiêu ngành Quản trị – Luật.
12. ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM): Dự kiến tuyển 2.750 chỉ tiêu hệ ĐH, có thể tuyển thêm khối B cho ngành Khoa học vật liệu.
13. ĐH Giao thông vận tải TPHCM: Dự kiến tuyển 2.650 chỉ tiêu, trong đó 2.250 chỉ tiêu hệ ĐH và 400 chỉ tiêu hệ CĐ.
14. ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM: Dự kiến tuyển 3.850 chỉ tiêu hệ ĐH và 300 chỉ tiêu hệ CĐ.
15. ĐH Cần Thơ: Dự kiến tuyển 6.500 chỉ tiêu chính quy bậc ĐH, trong đó 500 chỉ tiêu đào tạo tại tỉnh Hậu Giang.
16. ĐH An Giang: Dự kiến tuyển 2.690 chỉ tiêu bậc ĐH, 690 chỉ tiêu hệ CĐ và 690 chỉ tiêu hệ TCCN. Các ngành của Trường ĐH Sư phạm tuyển thí sinh các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh thuộc TP Cần Thơ. Các ngành ĐH ngoài sư phạm, tuyển thí sinh hộ khẩu ĐBSCL.
17. ĐH Đồng Tháp: Tuyển sinh trong cả nước, dự kiến 3.000 chỉ tiêu hệ ĐH, 1.200 chỉ tiêu hệ CĐ và 600 chỉ tiêu hệ TCCN.
18. Trường ĐH Sư phạm TP.HCM: Năm 2011, dự kiến tuyển 1.600 chỉ tiêu. Phân hiệu tại Kon Tum dự kiến tuyển 510 chỉ tiêu.
19. ĐH Bách khoa TP.HCM: Tuyển sinh năm 2011, trường dự kiến tuyển 3.260 chỉ tiêu khối A.
20. ĐH Ngoại ngữ: Năm 2011, trường 1.430 chỉ tiêu. Cụ thể các ngành gồm: SP tiếng Anh: 100, SP tiếng Anh bậc tiểu học: 70, SP tiếng Pháp, SP tiếng Trung, CN tiếng Nga, CN tiếng Pháp, CN tiếng Pháp du lịch, CN tiếng Trung thương mại, CN tiếng Thái Lan: mỗi ngành 35 CT, CN tiếng Anh: 435, CN tiếng Anh thương mại: 195, CN tiếng Trung: 80, CN tiếng Nhật: 100, CN tiếng Hàn Quốc: 70, CN quốc tế học: 135.
21. ĐH Xây dựng Hà Nội: Năm 2011, dự kiến tuyển sinh 2.800 chỉ tiêu, theo lãnh đạo nhà trường sẽ tăng chỉ tiêu cho các ngành xã hội đang cần: xây dựng dân dụng và công nghiệp, kinh tế xây dựng, xây dựng cầu đường.
22. Viện ĐH Mở Hà Nội: Dự kiến, tuyển sinh 2011 tuyển 3.000 chỉ tiêu hệ ĐH chính quy, 600 chỉ tiêu hệ CĐ. Các hệ khác của trường này tuyển trên 3.000 chỉ tiêu và hệ từ xa tuyển 12.000 chỉ tiêu.
Hồng Hạnh
Theo dantri.com.vn
Giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường
Oct 5th
“Riêng đối với khối giáo dục CĐ, ĐH, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa…”, TS, Nhà giáo ưu tú Đặng Huỳnh Mai viết.

Vấn đề mối quan hệ cũng như sự tác động giữa giáo dục và nền kinh tế thị trường đã được rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đề cập trong nhiều diễn đàn và hội thảo khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ tiếp cận vấn đề trên quan điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của kinh tế thị trường đối với giáo dục được xem xét trên cơ sở của mối quan hệ giữa giáo dục với thị trường hàng hóa (mang hình thái vật chất); thị trường nhân tài; thị trường dịch vụ lao động và cả mối quan hệ giữa cơ chế giáo dục với cơ cấu kinh tế…
Có thể hiểu, thị trường là nơi hoặc lĩnh vực trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành mua bán. Còn thị trường giáo dục – nếu thừa nhận sự tồn tại của nó – thì phải được xét trên các lĩnh vực như: sự nghiệp giáo dục, nguồn lực giáo dục, sản phẩm của giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như cái gì là nơi có thể trao đổi, mua bán.
Những lý luận liên quan
Về sự nghiệp giáo dục: Về việc giáo dục liệu có phải là sản xuất công nghiệp hay không, thì cho đến nay, giới kinh tế học giáo dục đưa ra những ý kiến, góc nhìn và nhận xét khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.
- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt
Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là “ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân”; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.
Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.
Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào, thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?
Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã hội, và vì vậy, lẽ đương nhiên, giáo dục là một ngành sản xuất.
Tuy nhiên, nếu giáo dục là một ngành sản xuất, thì nó cũng phải chịu sự chế ước và chi phối của quy luật kinh tế thị trường. Nhưng tự bản thân giáo dục cũng có quy luật riêng, cố hữu của nó, và tất yếu vấn đề chiến lược xây dựng và phát triển giáo dục của một đất nước lại phải tuân theo quy luật của bản thân ngành giáo dục và quy luật xây dựng và phát triển của đất nước đó.
- Quan niệm giáo dục là yếu tố sản xuất
Quan niệm này cho rằng, giáo dục là yếu tố sản xuất quan trọng nhất của sản xuất xã hội. Bởi vì, nhân tài và người lao động chính là sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, sản phẩm từ sản xuất giáo dục là sức lao động có tri thức và kỹ năng nhất định, có “giá trị” và “giá trị sử dụng”.
- Quan niệm giáo dục không là sản xuất
Nhiều học giả trên thế giới không hoàn toàn đồng ý với quan niệm giáo dục “là một ngành sản xuất”, khi cho rằng, cần phải coi quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hóa, khoa học – kỹ thuật. Nếu xét từ góc độ này, giáo dục cũng có tính sản xuất nhất định. Mặc dù bản thân giáo dục không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng đã “sản xuất” ra những con người làm ra của cải vật chất.
Về sản phẩm giáo dục:
- Sản phẩm và hoạt động của dịch vụ giáo dục là hàng hóa. Sản phẩm và dịch vụ giáo dục được tiến hành trao đổi, bao gồm sản phẩm dịch vụ giáo dục và sản phẩm của các ngành khác. Người ta cho rằng, nếu không có kiểu trao đổi này, quan điểm giáo dục là ngành sản xuất sẽ không còn tồn tại. Vì vậy, sản phẩm dịch vụ giáo dục phải là hàng hóa và cần phải được thị trường hóa. Bởi vì:
+ Những thứ mà dịch vụ giáo dục cung cấp, mặc dù giá trị sử dụng là đặc biệt, nhưng xét về bản chất, nó cũng như các hàng hóa khác. Vì vậy, dịch vụ do giáo dục cung cấp có thể nói chính là hàng hóa.
+ Các kiểu dịch vụ hoặc bản thân hoạt động lao động có giá trị, khi trao đổi trên thị trường, về bản chất, không có gì khác về mặt hình thức so với các hàng hóa khác.
+ Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo – hay nói cách khác – năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi tham gia thị trường.
- Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục – đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa… Nếu quá nhấn mạnh vào vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng trong giáo dục.
Về thị trường giáo dục:
- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất
Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.
- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động
Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là vấn đề hạt nhân, là khâu then chốt của việc nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của nó đối với thị trường. Nó được thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau đây:
+ Trong điều kiện sản xuất hiện đại hóa, nhân tài và sức lao động vừa là đối tượng để giáo dục đào tạo, vừa là người lao động trong các ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất hàng hóa; là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về nhân tài chuyên ngành và các loại lực lượng lao động, vừa thể hiện bằng hình thức điều động, phân công của nhà nước, vừa có sự điều tiết bằng quy luật cung – cầu của thị trường.
+ Mối quan hệ nội tại giữa giáo dục với thị trường nhân tài và thị trường lực lượng lao động lại thể hiện ở vai trò của đào tạo nhân tài chuyên ngành và huấn luyện lực lượng lao động chuyên môn sâu. Giáo dục, xét về góc độ thực tế, phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân tài và thị trường lao động chuyên ngành. Nếu lực lượng này đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thời đại, thì chắc chắn sẽ đứng vững trong thị trường cạnh tranh nhân tài và lực lượng lao động.
+ Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là nguồn giá trị nhiều hơn giá trị vốn có của nó như C. Mác từng nói, đại ý là: hàng hóa sức lao động sở dĩ là sản phẩm có sự khác biệt giữa giá trị của bản thân nó và giá trị do nó tạo ra là vì nó có đặc tính riêng biệt, là lực lượng sáng tạo giá trị, là nguồn gốc của giá trị.
- Thị trường khoa học – kỹ thuật
Thị trường khoa học – kỹ thuật gắn liền với 2 yếu tố: thiết bị và công nghệ ứng dụng; con người sử dụng thiết bị và công nghệ đó. ở đây, thiết bị và công nghệ là hàng hóa thì quá rõ ràng, còn người sử dụng thì lại rơi vào thị trường nhân tài và lực lượng lao động như đã đề cập ở trên.
- Thị trường dịch vụ lao động (dịch vụ) C. Mác cũng từng cho rằng: Dịch vụ trường học (chỉ cần anh ta là thứ mà sản xuất cần hoặc có ích); dịch vụ y tế (chỉ cần anh ta bảo đảm được sức khỏe, duy trì tất cả nguồn giá trị tức là bản thân sức lao động), mua dịch vụ này chính là mua hàng hóa có thể bán được, cung cấp bản thân khả năng lao động để thay thế phục vụ bản thân. Dịch vụ này cần thêm phí sản xuất và phí tái sản xuất khả năng lao động. Nói chung, ý nghĩa dịch vụ ở đây chẳng qua là dịch vụ cung cấp hoạt động, giữa giáo dục và thị trường dịch vụ lao động có mối liên hệ mang tính tất nhiên.
Tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực giáo dục
Đối với giáo dục phổ thông, bao gồm:
- Đối với giáo dục mầm non chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện xã hội hóa, thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:
+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục mầm non vẫn là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa.
+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.
+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường nhưng phần lớn là chưa ngang giá đối với giáo dục giỏi.
- Đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cấp học phổ cập, bắt buộc, vấn đề thị trường là không đáng kể. Phần thực hiện xã hội hóa cũng không đáng kể. Thị trường có thể tác động hoặc không tác động vào các lĩnh vực như:
+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục tiểu học là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa. Cho dù là công lập hay ngoài công lập thì vẫn phải thực hiện nhiệm vụ mà trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn là “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau”.
+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.
+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị thì phân công, điều động là hình thức chủ yếu; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường về mức thù lao ở một số trường tư thục hoặc một vài trường quốc tế.
- Đối với giáo dục trung học phổ thông chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện vai trò trách nhiệm của Nhà nước có kết hợp với xã hội hóa, thì thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:
+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục trung học phổ thông vẫn chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên ở đây có một phần của vai trò quốc tế.
+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường
+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị, được Nhà nước điều động và phân công và tiền lương theo mức quy định của Nhà nước. Đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi, thương lượng, nhưng phần lớn là sức lao động bỏ ra chưa ngang giá đối với giáo viên giỏi ở một số trường trong nước; có thể ngang giá ở một vài trường quốc tế. Đối với nhiệm vụ quốc tế: thuộc cơ chế thị trường (trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho ở một vài trường học).
- Đối với giáo dục cao đẳng và đại học
+ Về sự nghiệp giáo dục, đây là bậc học đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Cho nên, sự nghiệp giáo dục vẫn phải là đào tạo những con người phục vụ cho đất nước, nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.
+ Về hoạt động dịch vụ, người ta cho rằng, ngoài đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chất lượng cao thì chất lượng dịch vụ ở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng. Nhìn vào chất lượng dịch vụ giáo dục ở một trường đại học, có thể đánh giá được năng lực quản lý của nhà trường đó. Vì vậy, lĩnh vực này có mang ý nghĩa hàng hóa trong cơ chế thị trường.
+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động:
Đối với các trường công lập, Nhà nước cần quan tâm quản lý và đầu tư để có những con người tài ba phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lực lượng này do Nhà nước điều động, phân công và tiền lương cần được thực hiện như tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.
Đối với các trường ngoài công lập, lực lượng giảng viên làm việc trong khối này có thể chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường nhân tài và lao động. Chính nơi này cũng sẽ góp phần tạo ra thị trường lao động để người lao động khẳng định tài năng và hiệu quả làm việc.
Đối với nhiệm vụ quốc tế, thuộc cơ chế thị trường, trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho.
Với thị trường khoa học – kỹ thuật, đây là lĩnh vực hoàn toàn có thể thị trường hóa, không những trong phạm vi của một nhà trường, một đất nước, mà có thể triển khai ở phạm vi quốc tế.
Tóm lại, xét từ góc độ vĩ mô, giáo dục Việt Nam là một hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó có chú trọng đến việc đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Với lĩnh vực giáo dục phổ thông, do chức năng và nhiệm vụ giáo dục là hết sức đặc trưng, nên thành quả của giáo dục là đa phương diện; trong đó, thành quả của giáo dục đáp ứng nhiệm vụ chính trị là quan trọng nhất và mang tính chất quyết định. Cơ chế thị trường chỉ có thể tác động vào lĩnh vực dịch vụ và hoạt động dịch vụ giáo dục là chính. Riêng đối với khối giáo dục cao đẳng và đại học, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa, còn yếu tố tài năng và lực lượng lao động thì phần lớn phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước ta; phần còn lại có thể tham gia thị trường trong nước và quốc tế.
Điểm trúng tuyển NV3 ĐH Hồng Đức, Đại Nam
Oct 1st
Hôm nay 1/10, ĐH Hồng Đức và ĐH Đại Nam công bố điểm chuẩn NV3. Điểm trúng tuyển đối với thí sinh thuộc khu vực 3, học sinh phổ thông. Mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các khu vực kế tiếp là 0,5 điểm, giữa các nhóm đối tượng là 1,0 điểm.
Điểm chuẩn NV3 ĐH Hồng Đức:
|
|
Ghi chú: Thí sinh trúng tuyển nhập học ngày 6/10/2010. Nếu thí sinh nào chưa nhận được giấy báo nhập học vẫn tới trường nhập học xin cấp bổ sung giấy báo. Điểm chuẩn NV3, ĐH Đại Nam:
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| TT | Ngành | Khối thi | Điểm chuẩn | Ghi chú |
|
1 |
Kỹ thuật CT XD |
A |
13 |
|
|
2 |
Công nghệ thông tin |
A |
13 |
|
|
3 |
Quản trị kinh doanh |
A, D1,2,3,4 |
13 |
|
|
4 |
Tài chính- ngân hàng |
A, D1,2,3,4 |
14 |
|
|
5 |
Kế toán |
A, D1,2,3,4 |
13,5 |
|
|
6 |
Tiếng Anh |
D1 |
13 |
Điểm chuẩn NV3 hệ Cao đẳng:
| TT | Ngành | Khối thi | Điểm chuẩn | Ghi chú |
|
1 |
Công nghệ thông tin |
A |
10 |
|
|
2 |
Tài chính ngân hàng |
A |
10 |
Cập nhật theo:Tinmoi.vn
Quá ít hồ sơ NV3 nộp vào các trường ĐH dân lập
Sep 28th
Chỉ còn 3 ngày nữa là hết hạn nhận hồ sơ NV3 nhưng hiện nay các trường ĐH dân lập đã “phát hoảng” vì lượng hồ sơ nộp vào quá ít.
Trường ĐH dân lập Thành Tây, đến chiều ngày 27/9, tổng hồ sơ trường nhận được là 300 trên tổng số 1.200 chỉ tiêu. Trao đổi với Dân trí, ông Hoàng Hữu Nguyên, phó hiệu trưởng của trường than rằng: “Đến giờ phút này tôi không hy vọng là hồ sơ sẽ tăng lên vì giờ đã cạn nguồn tuyển. Cứ đà này sang năm không biết chúng tôi làm thế nào. Trong khi đó đầu năm trường đã tuyên truyền đủ kiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng và phát nhiều tờ rơi nhưng đến giờ phút này thì hết cách”.
Ông Nguyên cũng cho hay: “Bộ GD-ĐT vừa xuống xem tình hình của trường. Chúng tôi cũng đã phản ánh lại với Bộ rằng: Bộ chuẩn đoán sai về số lượng học sinh đậu thực nên đưa ra điểm sàn cao hơn so với thực tế. Bên cạnh đó, tôi thắc mắc với Bộ tại sao cho các trường công lập mở ra nhiều khối B – hệ ngoài ngân sách, hệ này chính là hệ dân lập trong trường công lập. Do vậy, nhiều trường dân lập chúng tôi mới rơi vào tình cảnh này”.
Cũng rơi vào tình cảnh như Trường ĐH dân lập Thành Tây, đến chiều ngày 27/9, Trường ĐH Chu Văn An hiện nay cũng chỉ mới nhận được 100 hồ sơ NV3. Tổng số hồ sơ trường nhận được trong mùa tuyển sinh năm nay khoảng gần 500 hồ ssơ/1.400 chỉ tiêu.
Ông Nguyễn Văn Duy, trưởng phòng đào tạo của trường cho biết: “Chúng tôi lo lắm cứ đà này nhà trường sẽ phải đóng cửa vì không có sinh viên. Hiện nay 1 số ngành chúng tôi tuyển được rất ít 1-2 thí sinh như Ngoại ngữ tiếng Trung, tiếng Anh, Công nghệ thông tin khá hơn được 10 chỉ tiêu. Với năm trước đến thời điểm này, trường chúng tôi nhận được 700 hồ sơ/1.400 chỉ tiêu”.
Cũng đến chiều ngày 27/9, Trường ĐH dân lập Lương Thế Vinh mới tuyển được 300 hồ sơ NV3. Tổng cộng đến nay trường nhận được 800 hồ sơ/1.600 chỉ tiêu. Trường không hy vọng sẽ tuyển thêm được nữa, gay quá – ông Nguyễn Hữu Kiều trưởng phòng đào tạo cho hay.
Còn Trường ĐH Nguyễn Trãi khả dĩ hơn, ông Nguyễn Trọng Hanh, hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường đã nhận được hơn 100 hồ sơ NV3 trên tổng số 240 chỉ tiêu. Tổng hồ sơ trường nhận được trong mùa tuyển sinh 2010 là khoảng 70%.
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, xét tuyển NV3 cả nước có 118 trường ĐH, CĐ. Hầu hết điểm xét tuyển NV3 chỉ bằng điểm sàn của Bộ. Thời giạn cuối cùng các trường đại học, cao đẳng nhận hồ sơ NV3 đến17giờ 00 ngày 30/9/2010.
Hồng Hạnh
Theo dantri.com.vn
Làm thế nào để học tốt ở bậc ĐH
Sep 21st
Chiều 19/9, cuộc tọa đàm với chủ đề “Làm thế nào để học tốt ở bậc ĐH” được Bộ GD-ĐT, Hội SVVN, VTV6 và Công ty Pico phối hợp tổ chức tại Hà Nội. Buổi tọa đàm có sự tham dự của các thủ khoa kỳ thi tuyển sinh ĐH và thủ khoa “đầu ra” năm 2010.

Thủ khoa Lê Hồng Nam (ngoài cùng bên trái) nhận giấy khen của Trường ĐH Ngoại thương trong lễ khai giảng chiều 13/9/2010.
Khi được hỏi về bí quyết học, thủ khoa Trần Trọng Biên (đỗ 29,5 điểm vào Trường ĐH Dược), chia sẻ có chăng thì chỉ là những kinh nghiệm chọn sách, đọc sách.
Biên cho biết em tự học theo sách, đọc rất nhiều lần, bài nào không hiểu mới nhờ thầy cô giảng. Những gì học được, nghe được đều viết ra giấy bởi Biên cho rằng rất nhiều bạn không phải thông minh xuất sắc nhưng do viết kiến thức ra giấy nên nhớ rất lâu, mỗi khi đi thi đều đạt điểm tốt.
Chọn sách với Biên cũng là cả một vấn đề. Kinh nghiệm chọn sách của em là chọn những cuốn trọng tâm, cuốn tác giả diễn đạt dễ hiểu nhất.
Lê Minh Tuấn (29 điểm, Trường ĐH Ngoại thương cơ sở 2) cũng cho biết bí quyết là tự học ở nhà kết hợp với học thêm trên lớp, học trên mạng.
Nguyễn Trung Kiên (29 điểm, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) chia sẻ: “Kiến thức của em có được một phần nhờ đọc nhiều sách tham khảo theo chuyên đề. Thầy cô chỉ dạy phương pháp. Việc tự học là rất quan trọng”.
Kinh nghiệm này cũng được Ngô Ngọc Quang (29 điểm, Trường ĐH Y Hà Nội) áp dụng. Quang cho biết tự học phải là chính.
Bên cạnh việc tự làm lại những bài thầy dạy trên lớp, Quang còn làm nhiều bài tập ở sách tham khảo để rèn kỹ năng.
Lê Hồng Nam (29 điểm, Trường ĐH Ngoại thương cơ sở 2) cho biết chính thầy chủ nhiệm lớp 12 đã truyền cho Nam và các bạn trong lớp niềm đam mê học tập. Từ đam mê ấy kết hợp với tự đọc sách, tài liệu trên mạng đã giúp Nam có một kiến thức vững vàng trước ngưỡng cửa ĐH.
Nhiều thủ khoa thừa nhận chính kết quả rất cao ở kỳ thi đầu vào đã khiến các em bị áp lực. Làm thế nào để học tốt ở bậc ĐH để không bị các bạn khác nhìn vào “thủ khoa mà học như thế!”? Lê Hồng Nam cho biết em bị áp lực rất lớn khi vào ĐH và đến tận bây giờ vẫn chưa có cách nào hóa giải.
Trần Trọng Biên chia sẻ đã có một đàn anh ở trường kết quả thi ĐH rất cao, học rất tốt nhưng chỉ vì một học kỳ kết quả không như ý muốn, không được nhận học bổng mà bị trầm cảm, phải nhập viện điều trị.
Biên thổ lộ em rất lo nhưng sẽ cố gắng không để cho sự lo lắng lấn át. Thủ khoa này khẳng định kiến thức thu được là quan trọng, còn mục tiêu thủ khoa đầu ra hay du học nước ngoài thì chưa tính đến. Nguyễn Trung Kiên cũng cho biết áp lực thủ khoa đang đặt lên vai nặng trĩu.
Để hóa giải những lo lắng, áp lực của một tân thủ khoa, Nguyễn Duy Sơn (thủ khoa đầu ra năm 2010 của Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội), cho rằng cần phải học như một nhà khoa học để có sự đam mê với kiến thức, học như một nhà du hành vũ trụ để luôn theo đuổi sự chính xác trong học tập, học như một công nhân phải cần cù, tỉ mỉ.
ĐH Ngoại thương tuyển 100 chỉ tiêu NV2 hệ CĐ
Aug 25th
- Điểm trúng tuyển nguyện vọng (NV)1 hệ CĐ khối A là 19; khối D1,2,3,4,6 là 18. Với mức điểm này hệ CĐ của Trường ĐH Ngoại thương (cơ sở phía Bắc) còn thiếu 100 chỉ tiêu.
![]() |
| Ảnh Bích Ngọc |
Hội đồng tuyển sinh nhà trường chính thức thông báo xét tuyển 100 chỉ tiêu NV2. Mức điểm nhận hồ sơ xét tuyển khối A từ 19 điểm và khối D1,2,3,4,6 (môn Ngoại ngữ không nhân hệ số) từ 18 trở lên.
Những thí sinh dự thi vào Trường ĐH Ngoại thương và các trường ĐH khác thi theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT không trúng tuyển NV1, nhưng có tổng điểm 3 môn thi (khối A, khối D1,2,3,4,6) bằng hoặc cao hơn điểm chuẩn từng khối thi được nộp hồ sơ xét tuyển NV2.
Hồ sơ đăng ký xét tuyển, gồm: một Giấy chứng nhận kết quả thi ĐH năm 2010 có đóng dấu đỏ của trường (Phiếu số 1 – bản chính); một phong bì dán tem, ghi rõ địa chỉ liên lạc của thí sinh; Lệ phí xét tuyển: 15.000 đồng/hồ sơ.
Trên cơ sở NV đăng ký xét tuyển của thí sinh, Hội đồng tuyển sinh nhà trường sẽ xếp thứ tự (theo kết quả thi, khu vực và đối tượng ưu tiên) từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu.
Trường ĐH Công đoàn cũng đã công bố điểm chuẩn NV1 hệ CĐ. Theo đó, điểm chuẩn khối A là 11 và khối D1 là 12,5 điểm. Với mức điểm chuẩn khối này, nhà trường tuyển được 247 thí sinh.
Trong số 247 thí sinh trúng tuyển có 29 thí sinh đã không trúng tuyển vào ngành đăng ký nhưng đủ điểm vào trường theo khối sẽ được chuyển vào ngành Quản trị Kinh doanh.
Dưới đây là điểm trúng tuyển và số thí sinh đậu theo từng ngành:
| Ngành | Khối | Điểm trúng tuyển | Số lượng thí sinh đạt | Ghi chú |
| - Quản trị Kinh doanh | A | 11 | 29 | 29 thí sinh đã không trúng tuyển vào ngành đăng ký nhưng đủ điểm vào trường theo khối sẽ được chuyển vào ngành Quản trị Kinh doanh |
| - Quản trị Kinh doanh | D1 | 12,5 | 25 | |
| - Kế toán | A | 11,5 | 45 | |
| - Kế toán | D1 | 13,5 | 40 | |
| - Tài chính Ngân hàng | A | 11 | 37 | |
| - Tài chính Ngân hàng | D1 | 12,5 | 42 | |
| Tổng cộng | 21 |
Cập nhật theo :Tinmoi.vn
ĐHQG Hà Nội liên kết với trường ngoại ‘dỏm’?
Jul 29th
Các cơ sở kinh doanh này xuất hiện dưới danh xưng “university” (đại học), nên dễ gây hiểu lầm cho những người chưa quen với hệ thống đại học Mỹ. Các cơ sở kinh doanh này thấy được nỗi khát khao có bằng nước ngoài của người Việt, và lợi dụng tình trạng thiếu thông tin để kiếm chác.
Đối với họ, việc in ra một tờ giấy làm học vị thạc sĩ, thậm chí tiến sĩ là điều quá dễ dàng vì họ chỉ quan tâm đến đồng tiền.
Chẳng những thế, một vài cơ sở kinh doanh bằng cấp còn liên kết với đại học VN để đào tạo sau đại học.
Qua Tuổi Trẻ gần đây, chúng ta biết rằng một phó bí thư tỉnh ủy đã được cơ sở kinh doanh có tên là Irvine University cấp bằng thạc sĩ quản trị danh dự.
Tôi đã kiểm tra và biết Irvine University nằm trong danh sách cơ sở kinh doanh bằng cấp, và không được giới chức giáo dục Mỹ công nhận là trường đại học.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là Irvine University đã liên kết với Đại học Quốc gia Hà Nội đào tạo thạc sĩ!
Bản tin của Đại học Quốc gia Hà Nội: “43 học viên được trao bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh quốc tế” còn tuyên bố đây là “một trong những chương trình liên kết đào tạo có uy tín tại Việt Nam”!
Thật khó tưởng tượng nổi một cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm liên kết với một đại học hàng đầu và mang danh nghĩa quốc gia để đào tạo thạc sĩ!
- Theo Nguyễn Văn Tuấn (Úc)/ Báo Tuổi trẻ
Cập nhật theo:Tinmoi..vn
Thi tuyển: Sinh viên vẫn khó đi cửa chính
Dec 11th
| Ảnh Quỳnh Hoa |
(SVVN) “Tôi đã nhiều lần phản ánh với Quốc hội về tình trạng nhiều sinh viên ra trường phải bỏ hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng để chạy việc, trong khi có nhiều sinh viên mặc dù phẩm chất tốt, năng lực khá nhưng vẫn bị loại vì không có tiền lót tay” – đại biểu Lê Văn Cuông (Thanh Hóa) bức xúc trong phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn và đề nghị Bộ trưởng phải có giải pháp.
Nan giải “bệnh” chạy chọt
Theo đại biểu Lê Văn Cuông, đã vài năm nay, vấn nạn chạy chức, chạy quyền không những chưa giảm mà còn có biểu hiện gia tăng. Cụ thể, thời gian qua, mặc dù không ít tiến sỹ không đảm bảo chất lượng nhưng vẫn được nhiều địa phương, rồi cả bộ, ngành trung ương cho là “nhân tài” nên đã đề ra nhiều chính sách, chế độ cục bộ hấp dẫn để thu hút, ưu tiên tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt.
Vì vậy, nhiều người cố chạy cho được tấm bằng tiến sỹ để “làm quan”, dẫn đến nghịch lý là ở các viện nghiên cứu, các trường đại học thì rất thiếu giáo sư, tiến sỹ, có trường phải lập danh sách giáo sư, tiến sỹ khống để được thành lập trường đại học nhưng ở các cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là ở cấp bộ thì “đi đâu cũng gặp tiến sỹ”. Ông Cuông đã hỏi Bộ trưởng “suy nghĩ gì” về vấn đề này, “trách nhiệm của Bộ trưởng đến đâu” và Bộ trưởng “sẽ làm gì” để ngăn chặn vấn nạn trên?
Trả lời ý này, Bộ trưởng Trần Văn Tuấn nhìn nhận, công tác cán bộ phải được thực hiện thật đúng quy trình, từ bước quy hoạch, đánh giá đến việc chăm lo, đào tạo, thử thách, quy trình đề bạt cũng phải được làm khách quan, thể hiện tập hợp ý kiến dân chủ của nhiều người, lắng nghe ý kiến góp ý. Bộ Nội vụ có trách nhiệm giám sát việc thực hiện tốt quy trình này.
Tuy nhiên, ngay cả khi đã làm tốt thì theo Bộ trưởng, tình trạng chạy chức, chạy quyền cũng chỉ có thể giảm chứ “chấm dứt” hẳn như mong muốn của đại biểu Cuông thì “rất khó”, đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. “Tôi biết đại biểu chưa toại nguyện, nhưng công tác cán bộ là việc khó – như lần trước đại biểu có trao đổi với tôi – rằng người ta chạy chức, chạy quyền thì đâu có nói với ai mà có thể biết được. Bây giờ, cái chính phải bằng cơ chế, bằng sự giám sát của nhân dân, của tổ chức, của tập thể để đề bạt cán bộ. Nếu làm tốt được việc đó, tôi chắc công tác cán bộ sẽ có điều kiện đạt được kết quả tốt” – Bộ trưởng Tuấn giãi bày.
Tiếp tục tranh luận với Bộ trưởng, ông Cuông không chấp nhận “chịu bó tay” trước tình hình chất lượng cán bộ thấp do nạn “chạy chọt”. Ông đã gợi ý một số “sáng kiến” thu thập được từ người dân, chẳng hạn như cần phải đưa ra nhiều ứng cử viên và các ứng cử viên phải có chương trình hành động, phải đối thoại mang tính cạnh tranh và phải đưa ra tập thể để bỏ phiếu…
Sửa đổi hình thức thi tuyển công chức
Ở một góc độ khác, đại biểu Nguyễn Ngọc Minh (Ninh Thuận) nêu ý kiến chung của cử tri cho rằng, việc thi tuyển công chức đã và đang tiếp tục bộc lộ nhiều bất cập, không thiết thực, không đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Mặc dù tính pháp lý không cao: không có yếu tố bắt buộc, có lúc thi tuyển, có lúc không; khu vực hành chính phải thi, khu vực sự nghiệp thì không; nội dung thi tuyển và tổ chức công tác thi tuyển không đủ tầm để đánh giá, xác định trình độ của người thi tuyển.cho thue xe | thue xe | thue xe o to | thue xe du lich | thue xe gia re | thue xe tu lai |
Nhưng qua thi tuyển công chức, nhiều sinh viên đã được đào tạo chính quy, trình độ chuyên môn đầy đủ vẫn bị đánh trượt, ảnh hưởng lớn đến tương lai nghề nghiệp, công tác. Liên quan đến câu hỏi này, Bộ trưởng Trần Văn Tuấn cho biết, thực hiện Luật Cán bộ, công chức (có hiệu lực từ 1/1/2010), Bộ Nội vụ sẽ hướng tới hình thức thi tuyển cạnh tranh, thay vì chỉ cần đạt tiêu chuẩn. Như vậy, một việc có thể có nhiều người đăng ký và ai “nhỉnh” hơn trong số đó sẽ được tiếp nhận. Đồng thời, sẽ xem xét việc mở rộng đối tượng thi tuyển và tuỳ từng cấp độ, có thể sẽ yêu cầu ứng viên phải nêu giải pháp cụ thể đối với công việc.
