Posts tagged tân sinh viên

Những lưu ý về thi tốt nghiệp với thí sinh tự do

– Theo quy định của Bộ GDĐT, thí sinh tự do đăng ký dự thi tốt nghiệp tại trường phổ thông trên địa bàn theo cư trú. Thời hạn nhận hồ sơ đăng ký dự thi chậm nhất trước ngày thi 30 ngày.

– Theo quy định của Bộ GDĐT, thí sinh tự do đăng ký dự thi tốt nghiệp tại trường phổ thông trên địa bàn theo cư trú. Thời hạn nhận hồ sơ đăng ký dự thi chậm nhất trước ngày thi 30 ngày.

Đối với những thí sinh tự do không đủ điều kiện dự thi do bị xếp loại kém về học lực ở lớp 12, phải đăng ký và dự kỳ kiểm tra cuối năm học tại trường phổ thông nơi học lớp 12 hoặc nơi đăng ký dự thi một số môn học có điểm trung bình dưới 5.0. Điểm bài kiểm tra được thay cho điểm trung bình môn học để tính lại điểm trung bình cả năm, nếu đạt thì mới đủ điều kiện về học lực theo quy định.

Trường hợp không đủ điều kiện dự thi do bị xếp loại yếu về hạnh kiểm ở lớp 12, phải được UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận có đủ tư cách, phẩm chất đạo đức và nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương. Những thí sinh đủ điều kiện mới được phát thẻ dự thi.

Hồ sơ dự thi đối với giáo dục THPT gồm có phiếu đăng ký dự thi (theo mẫu do Bộ GDĐT quy định); học bạ THPT (bản chính); giấy khai sinh (bản sao); bằng tốt nghiệp THCS (bản chứng thực); giấy chứng minh nhân dân (bản chứng thực); các loại giấy chứng nhận để được hưởng chế độ ưu tiên (nếu có);bản sao sổ đăng ký hộ khẩu thường trú thuộc vùng cao, vùng sâu, khu kinh tế mới, xã đặc biệt khó khăn do UBND cấp xã xác nhận.

Các loại giấy chứng nhận để được hưởng chế độ cộng điểm khuyến khích (nếu có) gồm: chứng nhận nghề phổ thông; chứng nhận đoạt giải trong các kỳ thi do ngành GD-ĐT tổ chức hoặc phối hợp với các ngành chuyên môn khác từ cấp tỉnh trở lên tổ chức, gồm: thi học sinh giỏi các môn văn hóa, thi thí nghiệm thực hành (Vật lý, Hóa học, Sinh học), thi văn nghệ, thể dục thể thao, hội thao giáo dục quốc phòng, vẽ, viết thư quốc tế, thi giải toán trên máy tính bỏ túi. Các loại giấy chứng nhận phải nộp trước ngày thi.

Đặc biệt, thí sinh cần giữ gìn cẩn thận vì thẻ dự thi không chỉ dùng để kiểm tra, đối chiếu thí sinh trước khi vào phòng thi, mà mặt sau của mỗi tấm thẻ đều in rõ địa chỉ của địa điểm thi đồng thời có hướng dẫn cách tô số báo danh đối với bài thi trắc nghiệm.

Tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, các môn thi theo hình thức tự luận là các môn Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí. Thi theo hình thức trắc nghiệm: các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ (Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Đức, Tiếng Nhật).

Môn thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 sẽ là 6 môn trong số các môn nêu trên. Các môn thi chính thức sẽ được Bộ GD&ĐT thông báo cụ thể vào cuối tháng 3/2011.

Thời gian làm bài môn Văn, Toán là 150 phút, các môn trắc nghiệm 60 phút và các môn còn lại 90 phút.

Thanh Châu

Theo vnmedia.vn

“Nóng bỏng” thí sinh siêu mẫu

Đối với những cuộc thi sắc đẹp thì phần thi trang phục áo tắm là điều không thể thiếu. Tại bãi biển Hồ Tràm – Vũng Tàu các thí sinh đã có một ngày thực hiện nội dung thi quan trọng này.

40 thí sinh của cuộc thi Siêu mẫu Việt Nam 2010 đã được bốc thăm chia ngẫu nhiên để thực hiện loạt hình trang phục biển với 3 nhiếp ảnh gia của cuộc thi là: Quốc Huy, Nguyễn Long và Lý Võ Phú Hưng.
Hãy cùng ngắm những hình ảnh của tốp thí sinh đầu tiên dưới ống kính của nhiếp ảnh gia Nguyễn Long:

Gia Ngọc


Khánh Phương


Kim Thoa


Ngọc Thạch


Ngọc Thắng


Quốc Tường


Thế Trung


Thu Phương


Thùy Linh


Trần Thị Thịnh


Trung Kiên


Vy Luân


Xuân Tâm

Theo dantri.com.vn

Nữ sinh gốc Việt đoạt giải thưởng dành cho sinh viên xuất sắc

Cuối tháng trước, Phương Nguyễn, nữ sinh viên cao học gốc Việt tại Trường đại học Dominguez Hills – California (Mỹ) đã được Ban giám đốc Hệ thống Đại học California quyết định trao tặng giải thưởng William Randolph Heart/CSU Trustee Award năm 2010 (Outstanding Achievement for 2010).


Theo thông lệ, giải này được trao mỗi năm một lần cho một cá nhân xuất sắc nhất, nhưng có tinh thần vượt khó khăn trong cuộc sống và học tập của 1/23 ngôi trường trong toàn Hệ thống.

Phương Nguyễn sinh năm 1982, qua Mỹ định cư theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) năm 1991. Dù phải học 2 cấp dưới lớp do trình độ tiếng Anh còn kém, cô vẫn ra trường năm 19 tuổi trong danh sách 15 người đạt điểm cao nhất Trường Trung học Narbonne High School ở Harbor City. Sau đó, với năng khiếu đặc biệt về toán, cô được nhận vào học tại Trường ĐH Dominguez Hills.

Thuở ấu thơ, Phương Nguyễn đã từng cận kề với cái chết vì chứng sốt rét ác tính khi gần 1 tuổi, kèm theo những bất hạnh khác trong gia đình những năm gần đây, tưởng chừng cô không thể trở thành một giáo sư toán khi theo học tại Trường ĐH Dominguez Hills. Nhưng mỗi lần gặp khó khăn là mỗi lần cô cảm thấy mạnh mẽ hơn để theo đuổi giấc mơ riêng của mình. Năm 2009, Phương Nguyễn tốt nghiệp cử nhân ngành sư phạm Toán và hiện là giáo sư Toán tại Trường Trung học John C. Fremont ở Los Angeles.

Phương Nguyễn cho biết nhờ nhận được giải thưởng Hearst Scholar, vào đầu khóa mùa thu này cô sẽ ghi danh lớp Cao học Sư phạm Toán tại khoa Toán của Trường ĐH Dominguez Hills. Cô phát biểu: “Bằng cao học sẽ mang lại vinh dự cho cá nhân tôi và danh dự cho cha mẹ tôi. Tôi cũng có thể mang khoe với các anh chị em của tôi nữa. Lý do vì họ đều là các kế toán viên, nhưng hầu như không ai có bằng cao học. Tôi sẽ là người đầu tiên trong gia đình có được mảnh bằng quý giá này!”.

Ngoài số tiền học bổng 3.000 USD, người đoạt giải Hearst Scholars còn được nhà tài trợ Sony tặng một chiếc laptop hiệu Vaio cùng một máy quay phim Bloggie. Phương Nguyễn tâm sự: “Bấy nay tôi vẫn luôn ấp ủ ước mơ một ngày nào đó sẽ là người chủ xướng lập ra một quỹ học bổng giúp các nạn nhân của tệ nạn buôn người ở Việt Nam và một số nước khác trên thế giới!”.

Theo Đại Đoàn Kết

Giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường

“Riêng đối với khối giáo dục CĐ, ĐH, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa…”, TS, Nhà giáo ưu tú Đặng Huỳnh Mai viết.


Vấn đề mối quan hệ cũng như sự tác động giữa giáo dục và nền kinh tế thị trường đã được rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đề cập trong nhiều diễn đàn và hội thảo khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ tiếp cận vấn đề trên quan điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của kinh tế thị trường đối với giáo dục được xem xét trên cơ sở của mối quan hệ giữa giáo dục với thị trường hàng hóa (mang hình thái vật chất); thị trường nhân tài; thị trường dịch vụ lao động và cả mối quan hệ giữa cơ chế giáo dục với cơ cấu kinh tế…

Có thể hiểu, thị trường là nơi hoặc lĩnh vực trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành mua bán. Còn thị trường giáo dục – nếu thừa nhận sự tồn tại của nó – thì phải được xét trên các lĩnh vực như: sự nghiệp giáo dục, nguồn lực giáo dục, sản phẩm của giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như cái gì là nơi có thể trao đổi, mua bán.

Những lý luận liên quan

Về sự nghiệp giáo dục: Về việc giáo dục liệu có phải là sản xuất công nghiệp hay không, thì cho đến nay, giới kinh tế học giáo dục đưa ra những ý kiến, góc nhìn và nhận xét khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.

- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt

Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là “ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân”; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.

Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.

Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào, thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?

Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã hội, và vì vậy, lẽ đương nhiên, giáo dục là một ngành sản xuất.

Tuy nhiên, nếu giáo dục là một ngành sản xuất, thì nó cũng phải chịu sự chế ước và chi phối của quy luật kinh tế thị trường. Nhưng tự bản thân giáo dục cũng có quy luật riêng, cố hữu của nó, và tất yếu vấn đề chiến lược xây dựng và phát triển giáo dục của một đất nước lại phải tuân theo quy luật của bản thân ngành giáo dục và quy luật xây dựng và phát triển của đất nước đó.

- Quan niệm giáo dục là yếu tố sản xuất

Quan niệm này cho rằng, giáo dục là yếu tố sản xuất quan trọng nhất của sản xuất xã hội. Bởi vì, nhân tài và người lao động chính là sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, sản phẩm từ sản xuất giáo dục là sức lao động có tri thức và kỹ năng nhất định, có “giá trị” và “giá trị sử dụng”.

- Quan niệm giáo dục không là sản xuất

Nhiều học giả trên thế giới không hoàn toàn đồng ý với quan niệm giáo dục “là một ngành sản xuất”, khi cho rằng, cần phải coi quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hóa, khoa học – kỹ thuật. Nếu xét từ góc độ này, giáo dục cũng có tính sản xuất nhất định. Mặc dù bản thân giáo dục không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng đã “sản xuất” ra những con người làm ra của cải vật chất.

Về sản phẩm giáo dục:

- Sản phẩm và hoạt động của dịch vụ giáo dục là hàng hóa. Sản phẩm và dịch vụ giáo dục được tiến hành trao đổi, bao gồm sản phẩm dịch vụ giáo dục và sản phẩm của các ngành khác. Người ta cho rằng, nếu không có kiểu trao đổi này, quan điểm giáo dục là ngành sản xuất sẽ không còn tồn tại. Vì vậy, sản phẩm dịch vụ giáo dục phải là hàng hóa và cần phải được thị trường hóa. Bởi vì:

+ Những thứ mà dịch vụ giáo dục cung cấp, mặc dù giá trị sử dụng là đặc biệt, nhưng xét về bản chất, nó cũng như các hàng hóa khác. Vì vậy, dịch vụ do giáo dục cung cấp có thể nói chính là hàng hóa.

+ Các kiểu dịch vụ hoặc bản thân hoạt động lao động có giá trị, khi trao đổi trên thị trường, về bản chất, không có gì khác về mặt hình thức so với các hàng hóa khác.

+ Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo – hay nói cách khác – năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi tham gia thị trường.

- Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục – đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa… Nếu quá nhấn mạnh vào vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng trong giáo dục.

Về thị trường giáo dục:

- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất

Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.

- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là vấn đề hạt nhân, là khâu then chốt của việc nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của nó đối với thị trường. Nó được thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau đây:

+ Trong điều kiện sản xuất hiện đại hóa, nhân tài và sức lao động vừa là đối tượng để giáo dục đào tạo, vừa là người lao động trong các ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất hàng hóa; là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về nhân tài chuyên ngành và các loại lực lượng lao động, vừa thể hiện bằng hình thức điều động, phân công của nhà nước, vừa có sự điều tiết bằng quy luật cung – cầu của thị trường.

+ Mối quan hệ nội tại giữa giáo dục với thị trường nhân tài và thị trường lực lượng lao động lại thể hiện ở vai trò của đào tạo nhân tài chuyên ngành và huấn luyện lực lượng lao động chuyên môn sâu. Giáo dục, xét về góc độ thực tế, phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân tài và thị trường lao động chuyên ngành. Nếu lực lượng này đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thời đại, thì chắc chắn sẽ đứng vững trong thị trường cạnh tranh nhân tài và lực lượng lao động.

+ Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là nguồn giá trị nhiều hơn giá trị vốn có của nó như C. Mác từng nói, đại ý là: hàng hóa sức lao động sở dĩ là sản phẩm có sự khác biệt giữa giá trị của bản thân nó và giá trị do nó tạo ra là vì nó có đặc tính riêng biệt, là lực lượng sáng tạo giá trị, là nguồn gốc của giá trị.

- Thị trường khoa học – kỹ thuật

Thị trường khoa học – kỹ thuật gắn liền với 2 yếu tố: thiết bị và công nghệ ứng dụng; con người sử dụng thiết bị và công nghệ đó. ở đây, thiết bị và công nghệ là hàng hóa thì quá rõ ràng, còn người sử dụng thì lại rơi vào thị trường nhân tài và lực lượng lao động như đã đề cập ở trên.

- Thị trường dịch vụ lao động (dịch vụ) C. Mác cũng từng cho rằng: Dịch vụ trường học (chỉ cần anh ta là thứ mà sản xuất cần hoặc có ích); dịch vụ y tế (chỉ cần anh ta bảo đảm được sức khỏe, duy trì tất cả nguồn giá trị tức là bản thân sức lao động), mua dịch vụ này chính là mua hàng hóa có thể bán được, cung cấp bản thân khả năng lao động để thay thế phục vụ bản thân. Dịch vụ này cần thêm phí sản xuất và phí tái sản xuất khả năng lao động. Nói chung, ý nghĩa dịch vụ ở đây chẳng qua là dịch vụ cung cấp hoạt động, giữa giáo dục và thị trường dịch vụ lao động có mối liên hệ mang tính tất nhiên.

Tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực giáo dục

Đối với giáo dục phổ thông, bao gồm:

- Đối với giáo dục mầm non chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện xã hội hóa, thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục mầm non vẫn là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường nhưng phần lớn là chưa ngang giá đối với giáo dục giỏi.

- Đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cấp học phổ cập, bắt buộc, vấn đề thị trường là không đáng kể. Phần thực hiện xã hội hóa cũng không đáng kể. Thị trường có thể tác động hoặc không tác động vào các lĩnh vực như:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục tiểu học là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa. Cho dù là công lập hay ngoài công lập thì vẫn phải thực hiện nhiệm vụ mà trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn là “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau”.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị thì phân công, điều động là hình thức chủ yếu; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường về mức thù lao ở một số trường tư thục hoặc một vài trường quốc tế.

- Đối với giáo dục trung học phổ thông chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện vai trò trách nhiệm của Nhà nước có kết hợp với xã hội hóa, thì thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục trung học phổ thông vẫn chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên ở đây có một phần của vai trò quốc tế.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị, được Nhà nước điều động và phân công và tiền lương theo mức quy định của Nhà nước. Đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi, thương lượng, nhưng phần lớn là sức lao động bỏ ra chưa ngang giá đối với giáo viên giỏi ở một số trường trong nước; có thể ngang giá ở một vài trường quốc tế. Đối với nhiệm vụ quốc tế: thuộc cơ chế thị trường (trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho ở một vài trường học).

- Đối với giáo dục cao đẳng và đại học

+ Về sự nghiệp giáo dục, đây là bậc học đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Cho nên, sự nghiệp giáo dục vẫn phải là đào tạo những con người phục vụ cho đất nước, nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

+ Về hoạt động dịch vụ, người ta cho rằng, ngoài đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chất lượng cao thì chất lượng dịch vụ ở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng. Nhìn vào chất lượng dịch vụ giáo dục ở một trường đại học, có thể đánh giá được năng lực quản lý của nhà trường đó. Vì vậy, lĩnh vực này có mang ý nghĩa hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động:

Đối với các trường công lập, Nhà nước cần quan tâm quản lý và đầu tư để có những con người tài ba phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lực lượng này do Nhà nước điều động, phân công và tiền lương cần được thực hiện như tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đối với các trường ngoài công lập, lực lượng giảng viên làm việc trong khối này có thể chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường nhân tài và lao động. Chính nơi này cũng sẽ góp phần tạo ra thị trường lao động để người lao động khẳng định tài năng và hiệu quả làm việc.

Đối với nhiệm vụ quốc tế, thuộc cơ chế thị trường, trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho.

Với thị trường khoa học – kỹ thuật, đây là lĩnh vực hoàn toàn có thể thị trường hóa, không những trong phạm vi của một nhà trường, một đất nước, mà có thể triển khai ở phạm vi quốc tế.

Tóm lại, xét từ góc độ vĩ mô, giáo dục Việt Nam là một hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó có chú trọng đến việc đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Với lĩnh vực giáo dục phổ thông, do chức năng và nhiệm vụ giáo dục là hết sức đặc trưng, nên thành quả của giáo dục là đa phương diện; trong đó, thành quả của giáo dục đáp ứng nhiệm vụ chính trị là quan trọng nhất và mang tính chất quyết định. Cơ chế thị trường chỉ có thể tác động vào lĩnh vực dịch vụ và hoạt động dịch vụ giáo dục là chính. Riêng đối với khối giáo dục cao đẳng và đại học, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa, còn yếu tố tài năng và lực lượng lao động thì phần lớn phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước ta; phần còn lại có thể tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

Tự kiếm tiền ôn thi đại học

Nhà nghèo, cha bỏ đi, mẹ thành trụ cột chính của gia đình, nhưng giấc mơ giảng đường đại học chưa bao giờ lụi tắt nơi cô gái ấy. Sau lần thi trượt đầu tiên, cô quyết định tự kiếm tiền ôn thi ĐH. Và niềm vui đã đến với cô ở lần thi thứ ba…

Đó là chuyện về Lương Thị Tuấn, tân sinh viên khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. Kỳ thi ĐH vừa qua, cô thí sinh người dân tộc Thái ở bản Nam Đình (Chi Khê, Con Cuông, Nghệ An) này đạt được số điểm vừa đủ để đỗ vào trường ứng thí, nhưng đó cũng là một quả ngọt cho những cố gắng của cô suốt mấy năm qua.

Từ nhỏ, Tuấn sống cùng mẹ trong căn nhà lụp xụp nhất trong bản người Thái Nam Đình. Cha Tuấn bỏ đi từ khi cô chưa được 10 tuổi. Nhà không có đất sản xuất, ba mẹ con Tuấn sống chật vật bằng công việc làm thuê, khi thì làm cỏ ruộng, khi đi cấy thuê, kéo gỗ trên rừng. Ngoài giờ trên lớp, Tuấn phải giúp mẹ kiếm tiền trang trải cuộc sống. Cũng bởi vậy mà sức học của cô không được như mong muốn. Tuy nhiên cô gái trẻ ấy sớm xác định, chỉ có con đường học mới có thể giúp cô và gia đình thoát khỏi cái nghèo đeo đẳng.

Sau lần đầu thi rớt ĐH, Tuấn quyết định ở lại nhà một người bà con ở TP Bắc Ninh để ôn thi. Cô còn kiếm việc làm thêm ở một công ty điện tử để có tiền ăn học. Cứ mỗi tháng, 2, đến 3 lần Tuấn lại đạp xe từ TP Bắc Ninh lên bến xe Mỹ Đình thồ gạo về nhà trọ để có cái ăn ôn thi. Cô cho biết dù đã mấy năm ở xứ Bắc những vẫn chưa quen ngồi xe buýt vì luôn bị say xe. Phương tiện đi lại của cô là chiếc xe đạp cà tàng được mẹ mua cho từ hồi còn học phổ thông.

Niềm vui chỉ thực sự đến với Tuấn qua lần thi ĐH thứ ba. Cầm giấy báo nhập học, cô vừa mừng, vừa thấy lo cho mẹ và em trai. Khoản tiền ban đầu phải đóng khi nhập học là quá lớn đối với ba mẹ con. Căn nhà của ba mẹ con che bằng tấm lợp tồi tàn không có một tài sản nào đáng giá. Mẹ Tuấn lại phải chạy vạy vay mượn làng xóm mới có đủ tiền cho con gái nhập học.

“Nhìn thấy cảnh nghèo túng của gia đình cô, nhiều người khuyên cô không nên cho em đi học. Nhưng vì muốn con có được cơ hội thay đổi cuộc đời nên cô phải cố gắng thôi”, bà Lô Thị Tỵ – mẹ của Tuấn tâm sự.

Khi bắt tay tạm biệt chúng tôi, Tuấn nói như là hứa với chính mình: “Em sẽ cố gắng kiếm việc làm thêm để không phải xin tiền mẹ”.

Cầm chặt bàn tay còn hằn những vết chai của Tuấn, chúng tôi như cảm nhận thêm sự quyết tâm của cô tân sinh viên này.

Theo:dantri

“Cô học trò nghèo giỏi Anh văn” lo không có tiền học ĐH

“Từ ngày biết mình đậu đại học, em và gia đình vui lắm, nhưng cứ nghĩ đến kiếm tiền đâu để đủ ăn học suốt 4 năm trời lại khiến cả nhà phấp phỏng lo âu…” – đó là nỗi trăn trở của cô tân sinh viên nghèo Lê Thị Lệ Thủy.

Được tin cô học trò nghèo Lê Thị Lệ Thủy xuất sắc thi đậu vào khoa Kinh tế – Luật Trường ĐHQG TPHCM với 23 điểm, chúng tôi lại ngược huyện miền núi Hương Khê, Hà Tĩnh tìm đến nhà ông Lê Hữu Thái ở xóm 2 Phú Hương, xã Hương Xuân giữa cơn mưa tầm tả. Trong ngôi nhà tranh xiêu vẹo, dột nát của ông Thái, mọi người đang tụ tập đông đúc.

“Mấy bữa ni khi biết tin cháu Thủy đậu đại học nên anh em, bà con lối xóm sang giúp gia đình tui vót đũa hy vọng bán được giá để có tiền cho nó đi học” – ông Thái cho biết.

Ông Thái vui buồn lẫn lộn: “Mấy đêm ni hầu như cả nhà tui làm đến gần sáng. Tui bị bệnh tật, khó đi lại nhưng phải gắng sức vì con. Đôi lúc buồn ngủ díu mắt, muốn lên giường ngủ một tí nhưng nghĩ đến tiền mô mà cho con đi nhập học. Vậy là không tài mô mà đi ngủ được, uống vài ly nước chè nấu đặc cho tỉnh táo là làm đến sáng luôn”.

“Cau ni mua nợ bà con đó. Bây giờ cau đắt nên mỗi tạ cau tươi cũng mua hết hơn 300 ngàn, về phải phơi cả tháng trời mới vót được đũa. Làm việc cật lực mong sao góp được ngày ít chục ngàn mong sao có chút tiền cho cháu Thủy được đi học” – bà Huấn nhìn con gái ứa nước mắt.

Ông bà nội của Thủy năm nay đã ngoài tuổi 80, đau ốm liên miên nhưng cũng cố gắng giúp vợ chồng anh Thái và các cháu một tay. “Biết cháu đậu đại học nhưng ông bà cũng không có tiền cho cháu đi học. Sang đây giúp chúng nó được cái gì hay cái đó mong sao cháu Thủy thực hiện được ước mơ vào giảng đường đại học” – bà Lê Thị Trọng, 82 tuổi, tâm sự.

Riêng Thủy, từ khi biết tin đậu đại học, em vừa vui lại vừa buồn. “Vui lắm vì em đã ráng hết sức thi đậu cho cha mẹ mừng. Nhưng vừa rồi để có tiền đi thi trong Sài Gòn cả nhà đã phải tích góp nhiều tháng và vay mượn nhiều nơi. Bây giờ cứ nghĩ đến kiếm tiền đâu để đủ ăn học suốt 4 năm trời lại khiến cả nhà lo âu” – Thủy nhỏ nhẹ nói, giọng buồn rầu.

Thủy cho biết thêm: “Có lẽ nào con đường học tập của em chỉ dừng tại đây. Không, dù thế nào em cũng phải cố gắng. Em sẽ làm thêm kiếm tiền để học”.

Rời gia đình Thủy ra về mà chúng tôi cũng thấy chạnh lòng. Không biết mọi nỗ lực của gia đình em có tích góp nổi số tiền cho em vào Sài Gòn nhập học không? Liệu vóc dáng nhỏ yếu của cô học trò vốn sinh ra thiếu tháng có đủ sức vừa bươn chải làm thêm vừa phấn đấu học giỏi để nuôi giấc mơ thoát nghèo?

Theo:dantri