Posts tagged olympic

Ngô Bảo Châu và ngày lịch sử của dân tộc Việt Nam

Hôm nay, ngày 19/8/2010, dân tộc Việt Nam đang hồi hộp đón chờ một sự kiện có ý nghĩa lịch sử, trong một ngày lịch sử: Giáo sư Ngô Bảo Châu có nhiều khả năng được nhận giải thưởng Fields, một giải thưởng danh giá như giải Nobel về Toán học, một đỉnh cao vinh quang đối với cộng đồng toán học trên thế giới.

Chỉ ít giờ nữa thôi, rất có thể, lần đầu tiên, trí tuệ Việt Nam sẽ được thế giới vinh danh ở đỉnh cao khoa học loài người: toán học.

Riêng bản thân tôi, một người xuất thân từ lĩnh vực toán học, khi nhìn vào các công trình đồ sộ của Ngô Bảo Châu, tôi có niềm tin mạnh mẽ và một linh cảm rằng anh ấy sẽ được giải.

Vinh quang hôm nay, đâu chỉ của riêng Ngô Bảo Châu. Bởi anh đã thực hiện được hoài bão của bao thế hệ những người làm toán, yêu toán của Việt Nam đã và đang mơ một ngày nào đó dân tộc Việt Nam sẽ vươn tới tầm cao của toán học thế giới.

Có lẽ, hiếm có dân tộc nào lại yêu toán, mê toán như người Việt Nam. Chẳng thế mà, trong những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, nhà toán học có ảnh hưởng nhất nửa sau thế kỷ XX Grothendieck khi đến thăm đất nước này đã phải thốt lên: “có một nền toán học Việt Nam thật sự đúng nghĩa ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

Cả một thế hệ các nhà toán học Việt Nam đã hình thành dưới những mái nàh tranh sơ sài, bên ngọn đèn dầu leo lét những năm bonm đạn, đất nước đói khổ nhất.

Cùng với các bậc đàn anh, các bạn bè bước vào mọi ngã đường đời từ giảng đường, trang sách Toán, chúng tôi từng ôm ấp bao giấc mơ, bao khát vọng nhưng chưa thể tới đích.

Chúng tôi đã trải qua những niềm đam mê giải toán, say mê đọc những bài báo, bài giảng giải tích toán học của cố giáo sư Lê văn Thiêm, những trang giáo trình quy hoạch toán học của giáo sư Hoàng Tụy trong hầm trú ẩn tránh máy bay ở miền bắc những năm chiến tranh, từng sống với những giây phút vui sướng vỡ òa khi lần đầu tiên Hoàng Lê Minh, Vũ Đình Hòa mang huy chương vàng, huy chương bạc đầu tiên cho Việt Nam ở Olympic toán quốc tế tại Đức năm 1974.

Trải qua những ngày khó khăn nhất, phải ăn khoai lang luộc cho đỡ đói trong những đêm mùa đông giá lạnh thời kỳ đất nước còn đang trong thời kỳ kinh tế bao cấp ở một trường đại học trên thành phố cao nguyên, vẫn say mê tiếp cận với lý thuyết kỳ dị toán học còn mới mẻ giữa. Trong hoàn cảnh chung của đất nước và những lý do khác nhau, cơ duyên riêng khác nhau của mỗi người, khát vọng trở thành nhà toán học của bao bạn trẻ thông minh, tài năng không thành vì đã phải tìm lối đi khác trong cuộc đời …

Giờ đây, với các công trình đồ sộ được thế giới toán học ngưỡng mộ và phần thưởng vô cùng lớn lao được giới toán học thế giới xem là hoàn toàn xứng đáng với Ngô Bảo Châu, niềm mơ ước của các thế hệ như chúng tôi như đã được đền đáp, giấc mơ chinh phục đỉnh cao toán học thế giới cho dân tộc ta thực sự đã trở thành hiện thực.

Lúc này, cùng với những người từng học toán hoặc đã và đang làm toán, tất cả hướng về Hội trường Hội nghị Toán học thế giới ở Ấn Độ, tràn đầy niềm tự hào, hạnh phúc và muốn cúi đầu trân trọng những thành quả nhà toán học Ngô Bảo Châu đã đóng góp cho nền toán học của thế giới. Giải thưởng Fields nếu được trao cũng chỉ là sự xác nhận của giới toán học thế giới về các công trình tuyệt vời của Ngô Bảo Châu.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên thật lý thú. Đúng vào ngày tháng này, 65 năm trước, 19/08/1945, dân tộc Việt Nam vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền để trở thành một quốc gia độc lập thì hôm nay 19/08/2010, Ngô Bảo Châu đứng trước giải thưởng toán học lớn của nhân loại, đem đến niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam.

Sự kiện này là đỉnh cao nhất mà các nhà khoa học Việt Nam đạt được trong lịch sử của mình. Hy vọng rằng, từ hôm nay, những người Việt Nam tự tin hơn ở bản thân mình. Các nhà lãnh đạo ở mọi cấp ở nước ta, cũng từ đó, dám mơ ươc, ngẩng cao đầu để tin rằng Việt nam có thể đạt đến đỉnh cao nhân loại ở nhiều lĩnh vực khác nhau …

Trân trọng trước những công trình và vinh quang to lớn của Ngô Bảo Châu, ta cũng xúc động và kính trọng nhân cách của Ngô Bảo Châu khi anh thể hiện rõ nhân cách trí thức của mình: thẳng thắn, chính trực, có trách nhiệm trước những vấn đề của xã hội, của đất nước, kể cả ý kiến thẳng thắn đó có thể làm cấp này, cấp khác không thực sự hài lòng.

Cuối cùng là những câu hỏi lớn và thiết thực. Làm thế nào để Việt Nam trở thành một nước có nền toán học sánh vai với các nền toán học lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Pháp với những tên tuối và những công trình lớn như nhóm Bourbaki, Konmogorop , Kendưts, David Mumford ? Làm thế nào để đất nước Việt Nam tiếp tục nuôi dưỡng, phát triển những tài năng còn đang nhú mầm hôm nay sẽ đạt đến đỉnh cao như Ngô Bảo Châu trong tương lai? Câu hỏi này cần sự trả lời từ mọi người Việt Nam nhưng có lẽ trước hết ở những nhà lãnh đạo.

Cập nhật theo:Tinmoi.vn

Giáo sư Tạ Quang Bửu – một trí tuệ quảng bác

Có người cho rằng “Tạ Quang Bửu là một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Nhận định ấy cần có thêm thời gian để bình tĩnh kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đó không phải là điều thiếu căn cứ.


Ngay trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, ông đã mời một số nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học) như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ nghiên cứu toán học nước ta. Ông là người đề xướng và tổ chức thực hiện việc thi tuyển sinh đại học và kiểm tra kiến thức nghiên cứu sinh một cách công bằng, minh bạch. Ông cũng là một trong những người chủ trương mở các lớp phổ thông chuyên toán ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà khoa học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn đưa học sinh ta đi dự các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974, khi nửa nước còn chiến tranh giải phóng. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học hay nhà quản lý khoa học và giáo dục có tiếng…

Giáo sư Tạ Quang Bửu.

Bộ óc bách khoa Có người cho rằng “Tạ Quang Bửu là một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Nhận định ấy cần có thêm thời gian để bình tĩnh kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đó không phải là điều thiếu căn cứ.

Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910 tại làng Hoành Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cha là cụ cử nhân nho học Tạ Quang Diễm. Mẹ là bà Nguyễn Thị Đào (tức nữ sĩ Sầm Phố) có nhiều bài thơ vịnh cảnh nghèo, gửi gắm chút tình non nước in trên các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Thời Đàm…
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 – 23/7/2010), chiều qua 22/7, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận và lãnh đạo Văn phòng Bộ đã tới thăm gia đình và dâng hương tưởng nhớ cố giáo sư. (Ảnh: Giáo dục & thời đại)

Năm 1917, ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, mở kỳ thi cho những học sinh bảy tuổi, thi cả chữ Hán, Việt văn và toán, do ông nghè Đinh Văn Chấp chấm. Cậu bé Bửu đỗ cao và từ đấy nổi tiếng học giỏi. Năm 1929, là học sinh Trường Bưởi (Hà Nội), Tạ Quang Bửu đỗ đầu kỳ thi tú tài bản xứ (chương trình học và thi rất nặng). Sau đó, ông thi cùng học sinh các trường Tây, đỗ đầu tú tài Tây ban toán, và đỗ hạng ưu tú tài Tây ban triết. Toán học và triết học là hai môn được ông yêu thích ngay từ khi còn trẻ. Đỗ cao nên ông nhận được học bổng của Hội Như Tây du học (một hội khuyến học của Nam triều) để sang Pháp học tiếp. Trước đó, vào năm 1928, các ông Nguyễn Xiển và Hoàng Xuân Hãn cũng đã nhận được học bổng của Hội này để đi du học. Đến Paris, ngành học đầu tiên ông Bửu chọn là toán học. Các giáo sư Pháp rất quý ông về sự nhạy cảm toán học và óc suy luận thông minh, sắc bén. Sau này, GS. Lê Văn Thiêm kể lại: Trong kỳ thi lấy một chứng chỉ rất khó, hơn 100 người dự thi, chỉ có 4 người đỗ trong đó có ông Bửu. Sau khi theo học chương trình cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne (Paris), ông Bửu xuống Bordeaux để học thêm thầy Trousset về cơ học. Ông đọc kỹ cuốn Cơ học của Rauth và làm hầu hết các bài tập trong đó. Rồi ông dự thi và nhận được học bổng của Đại học Oxford bên Anh. Tại đây ông có cơ hội trau dồi tiếng Anh, nhất là về mặt ngữ âm và hội thoại, cũng như học cơ học lượng tử qua các xêmina. Năm 1938, ông lại có dịp trở lại nước Anh dự Trại Tráng sĩ của Tổ chức Hướng đạo Thế giới, thi lấy bằng trại trưởng. Một mẩu chuyện vui: Ông phải thi thuyết giáo về kinh Phúc Âm tại một nhà thờ Tin lành ở Anh, hấp dẫn đến mức có người tưởng ông là… mục sư! Trở về nước, ông từ chối làm quan, chỉ nhận dạy toán và tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu, một trường trung học tư ở Huế. Ông nhận thấy khó có thể hiểu sâu văn hóa Việt Nam và phương Đông nếu không học kỹ chữ Hán. Ông lên Bến Ngự xin thụ giáo cụ Phan Bội Châu, miệt mài nghiền ngẫm loại văn tự khó bậc nhất thế giới này. Ông dần tự đọc hiểu Luận Ngữ của Khổng Tử, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử và nhiều tác phẩm kinh điển khác của triết học phương Đông trong nguyên văn Hán ngữ. Vốn kiến văn uyên bác ấy giúp ông gặt hái nhiều thành quả về sau… Ngay trong mấy năm đầu chống Pháp vô cùng khó khăn, ông liên tiếp cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách như: Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử – Hạt nhân – Vũ trụ tuyến, và Sống. Mới đây, Nhà xuất bản Giáo Dục đã in lạicác tác phẩm ấy. Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Xiển nói: “Trong thời kỳ kháng chiến này, ông Bửu là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến các thế hệ đương thời.” Rồi ông Xiển dự báo: “Với những người mở đường như ông Bửu, ông Thiêm, chắc chắn nước ta sẽ có hàng trăm nhà toán học có tài không kém nước khác”. GS. Lê Văn Thiêm có lần kể lại: “Năm 1951, đến thăm anh Bửu tại một ngôi nhà lá dùng làm trụ sở của cơ quan Bộ Quốc phòng giữa rừng Tuyên Quang, tôi kinh ngạc và thú vị khi thấy, tuy chìm ngập trong công việc, anh vẫn dành thời gian đọc các sách báo toán nổi tiếng qua tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…”. GS Bửu có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Có lần qua châu Sơn Dương, ngồi trên lưng ngựa, mải mê đọc Nicolas Bourbaki, ông ngã tòm xuống suối! Về sau, ông viết cuốn Về cấu trúc của N. Bourbaki (1960). Và, cuốn sách giới thiệu khoa học hiện đại cuối cùng của GS. Bửu là cuốn Hạt cơ bản in sau khi ông qua đời. Theo GS. Thiêm thì “năng lực tự học của anh Bửu gần như là một thiên huyền thoại!” Nhà ngôn ngữ học toán học người Mỹ Noam Chomsky, người được tạp chí Mỹ Newsweek (Tuần Tin tức) đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ 20”, nhiều lần sang thăm Việt Nam và trò chuyện với GS Tạ Quang Bửu. Trở về Mỹ, N. Chomsky viết bằng tiếng Pháp: “Monsieur Ta Quang Buu est un homme d’une intelligence formidable!” (Ông Tạ Quang Bửu là một người thông minh khủng khiếp!). GS. Bửu còn là người tinh thông nhiều ngoại ngữ. Ông Nguyễn Xuân Huy cho biết: Hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta nhận được pháo phòng không của Liên Xô (cũ), kèm theo một bản hướng dẫn cách sử dụng máy ngắm bắn máy bay bằng tiếng Nga. Ông Huy không biết nhờ ai dịch, bởi vì lúc đó ở Bộ Quốc phòng chỉ có phiên dịch tiếng Trung Quốc. Nghe nói trên Bộ có ông Bửu chỉ tự học ba tháng đã đọc hiểu tiếng Nga, ông Huy liền cuốc bộ suốt một ngày một đêm lên gặp. “Anh Bửu xem lướt qua, rồi đọc một mạch tiếng Nga làm tôi phục quá! Xong, anh dịch ngay ra tiếng Pháp cho tôi đem về đọc lại thật kỹ để hướng dẫn bộ đội” – ông Huy kể lại mẩu chuyện đó trong một bài hồi ký in gần đây. Năm 1963, nhà toán học Ba Lan Mikusinsky gửi tặng GS. Bửu một số kết quả nghiên cứu mới của mình. GS Bửu đọc thẳng tiếng Ba Lan và sau đó thuyết trình về toán tử Mikusinsky cho các giảng viên toán tại các trường đại học ở Hà Nội. Còn về tiếng Anh, thì trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám, là Tham nghị trưởng ngoại giao (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), ông Bửu giúp Bác Hồ soạn thảo các bức công hàm gửi Stalin, Truman, Atlee…, và tiếp các nhà ngoại giao Anh, Mỹ… Mới đây, trong cuốn sách dày hơn 500 trang nhan đề Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?), ông Archimedes L. A. Patti, một người Mỹ vốn là đại tá tình báo, miêu tả những con người và sự kiện ở Hà Nội vào năm 1945, trong đó có đoạn: “Một vị khách đợi tôi ở biệt thự. Đó là ông Tạ Quang Bửu, một người Việt Nam ưu tú, có lẽ gần 30 tuổi. Tôi nhớ hình như đã trông thấy ông ở đâu đó nhưng không chắc lắm. Tôi và Bernique bắt tay ông. Ông tự giới thiệu là “do Bộ Nội vụ cử tới”. Ông nói tiếng Anh hoàn hảo với giọng đặc Oxford, không lơ lớ chút nào, khiến tôi sững sờ kinh ngạc…”. Chúng ta còn nhớ Bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 1945-1046 là đồng chí Võ Nguyên Giáp…

Người phát hiện, bồi dưỡng, nâng đỡ, cảm hoá các tài năng khoa học

Sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954), với cương vị Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học Nhà nước, rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, GS. Tạ Quang Bửu đã hết lòng xây dựng đội ngũ các nhà toán học Việt Nam. Ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ toán học nước ta, ông đã mời nhiều nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields như Laurent Schwartz hay Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất.

Có thể nói, GS. Tạ Quang Bửu có mối quan hệ gắn bó thân thiết và có ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều nhà khoa học, kỹ thuật có uy tín ở nước ta như: Hoàng Tụy, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Đạo, Hoàng Xuân Sính, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Hữu Đường, Phan Đức Chính, Phạm Hữu Sách, Đàm Trung Đồn, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Lân Dũng, Đặng Vũ Minh, Nguyễn Văn Điệp, Hà Huy Khoái, Ngô Huy Cẩn (tiến sĩ khoa học cơ học, thân phụ nhà toán học Ngô Bảo Châu), v.v. GS. Nguyễn Văn Hiệu, nhà vật lý Việt Nam được tặng Giải thưởng Lenin và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học – kỹ thuật, kể lại: “Đầu năm 1958, tại giảng đường Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, GS. Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh vật lý mới đoạt Giải thưởng Nobel của hai nhà bác học người Mỹ gốc Hoa là Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh về sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu. Buổi thuyết trình hôm ấy đã mang đến cho tôi một niềm hứng thú vô biên và đột ngột mặc dù, vào lúc đó, tôi chưa thật hiểu rõ nội dung phát minh nói trên. Tương tác yếu trở thành một đề tài nghiên cứu mang tính thời sự nóng hổi, hấp dẫn đến mức có nhà vật lý nước ngoài từng quả quyết: “Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!” Tôi cảm thấy câu nói đó không xa lạ đối với chính mình. Cho nên, ngay sau khi được cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna ở Liên Xô, tôi say mê lao vào nghiên cứu lĩnh vực nói trên và chẳng bao lâu sau, công bố 12 công trình về neutrino…”.

GS. Ngô Việt Trung, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, Viện trưởng Viện Toán học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho biết: “Tôi còn nhớ đó là một buổi chiều chớm lạnh giữa thập niên 70 thế kỷ trước. Sau giờ làm việc, GS. Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, sang công tác tại CHDC Đức, cho gọi tôi và vài anh em ta đang học tập, nghiên cứu tại đây đến khách sạn, nơi ông lưu trú. Lúc bấy giờ, tôi đang theo học Đại học Berlin. GS. Bửu thân mật hỏi chuyện chúng tôi và, đối với riêng tôi, ông cho mượn một cuốn sách chuyên khảo thuộc chuyên ngành tôi đang nghiên cứu, rồi căn dặn nên đọc thêm những nhà toán học nào ở phương Tây, bởi vì, theo ông, trong chuyên ngành này, các công trình của các nhà toán học CHDC Đức và các nước xã hội chủ nghĩa khác chưa phải là tiên tiến nhất. Cuộc trò chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. GS. Bửu bảo chúng tôi ngủ lại tại phòng ông. Nhưng trong phòng chỉ có… một cái giường! Ông nêu ra “sáng kiến”: Tất cả ngủ ngay dưới sàn nhà bởi vì, theo ông, sàn có trải thảm len, không sợ lạnh… Tôi cảm thấy ngành khoa học và giáo dục nước ta, vào thời điểm ấy, đã có một nhà lãnh đạo tài, đức tuyệt vời. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ khoa học toán học ở nước bạn, tôi vui vẻ trở về nước phục vụ, mặc dù biết rằng mình sẽ phải đương đầu với vô vàn khó khăn…”. GS. Tạ Quang Bửu còn cảm hoá nhiều nhà trí thức Việt kiều hướng về Tổ quốc. Ông có quan hệ thân thiết với các nhà toán học Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng, Bùi Trọng Liễu, v.v. Trong thiên hồi ký Chuyện gia đình và ngoài đời, GS. Bùi Trọng Liễu, Đại học Paris, kể lại: “Vào khoảng năm đầu thập niên 1960, cái thời xa xăm ấy, lúc mà tâm trí đông đảo bà con Việt kiều hầu như còn dồn cả vào tình hình chính trị miền nam, và chỉ lẻ tẻ vài cá nhân tự nguyện gửi sách báo, dụng cụ khoa học về một vài cơ sở ở miền bắc, bỗng một bữa tôi nhận được một cuốn từ điển khoa học in trong nước do anh Tạ Quang Bửu gửi tặng. Sự việc thật đơn giản này gợi cho tôi câu hỏi: Đây là đường lối “chiêu hiền đãi sĩ” của cách mạng Việt Nam mà anh là một trong những người góp phần vạch ra và thực hiện, hay là một dấu hiệu trong nước không từ chối sự đóng góp “tri thức” của kiều bào nước ngoài? Chắc là cả hai. Quan hệ giữa tôi và anh bắt đầu từ ngày đó… Rồi chiến tranh lan rộng ra miền bắc… Mùa xuân 1969, điều tôi mong mỏi chờ đợi đã đến. Anh T., vị tham tán văn hoá đầu tiên tại Cơ quan Tổng Đaị diện nước ta tại Pháp tới Paris, mang theo lời gợi ý của anh Bửu mời tôi về nước làm việc một tháng, thí điểm cho việc Việt kiều về công tác ngắn hạn (nhưng hè 1970, tôi mới sắp xếp về nước được). Gặp anh, tôi cảm thấy mình cùng trên một “làn sóng” với anh: “Thể xác không cần liên tục tại chỗ – anh nói – vẫn có thể đóng góp được. Một tập thể những Việt kiều có chuyên môn cao, có nghề nghiệp vững chắc, có địa vị xã hội ổn định, là một cửa sổ của ta mở sang phía các nước phương Tây…”. Nhà trí thức Việt kiều tiêu biểu Bùi Trọng Liễu đã hướng về đất nước do “sức hút” của bậc “đại sĩ phu hiện đại” Tạ Quang Bửu. GS. Tạ Quang Bửu cũng là người đề xướng việc mở các lớp phổ thông chuyên toán đầu tiên ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà toán học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn chủ trương đưa học sinh ta tham gia các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974 khi đất nước còn chưa thống nhất. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học có tiếng như: Ngô Việt Trung, Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Vũ Hà Văn, Lê Tự Quốc Thắng, Phạm Hữu Tiệp, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Đông Anh, Phạm Lê Kiên, Vũ Kim Tuấn, Nguyễn Hồng Thái, Lê Hồng Vân, Nguyễn Thị Thiều Hoa, Đinh Tiến Cường, Ngô Đắc Tuấn, Lê Hùng Việt Bảo; v.v. Một số học sinh chuyên toán khác, về sau, giữ trọng trách quản lý trong khoa học và giáo dục như: Đào Trọng Thi, Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Văn Nhung, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam; Nguyễn Đình Công, Phó Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; v.v. GS. Tạ Quang Bửu đột ngột ngừng làm việc vào đêm 14/8/1986 do rồi loạn tuần hoàn não. Một tuần sau, trưa 21-8, ông qua đời để lại những bài viết dở dang, những bản thảo chưa in. Chiến lược con người, đó là nhan đề bài báo cuối cùng của GS. Tạ Quang Bửu in trên tạp chí Tổ Quốc. Ông định chỉnh lý và bổ sung bài báo này thành một kiến nghị trình Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng chưa kịp làm.

Đẹp một cuộc đời
Đẹp một con người
Sao anh quá vội?
Khóc anh nghẹn lời.
“Chiến lược con người”
Anh vừa phác thảo
Mực còn chưa ráo
Chữ còn đương tươi
Tim bỗng ngừng đập
Anh đã đi rồi…

Nhà thơ đất Quảng, Khương Hữu Dụng, năm ấy 79 tuổi, bạn cùng lớp với GS. Tạ Quang Bửu và GS. Phan Thanh trong bốn năm theo học Trường Quốc học Huế (1922-1926), ghi vội mấy vần thơ thương tiếc người bạn cố tri yêu quý… Tại Paris, thủ đô nước Pháp, Viện sĩ Laurent Schwartz, nhà toàn học lỗi lạc được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học), đã viết trên tờ Le Monde (Thế Giới): “Tạ Quang Bửu và Lê Văn Thiêm là những nhân vật lớn mà nước Việt Nam khoa học không thể nào quên (…). Hai ông đã tiến hành một cuộc đấu tranh đầy khó khăn cho sự vô tư trong khoa học. Các nhà toán học Việt Nam ngày nay đều kính trọng hai con người ấy. Do vậy mà ngày nay Việt Nam vẫn còn là một nước đạt trình độ nghiên cứu toán học cao nhất ở vùng Viễn Đông; ít ra là về những đỉnh cao nghiên cứu, còn về trình độ trung bình thì, giờ đây, Việt Nam đã bị các nước và lãnh thổ được gọi là những “con hổ châu Á” như Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan vượt qua. Nhưng, về những đình cao nghiên cứu, Việt Nam vẫn còn ở hàng đầu…”. Nhiều người trong chúng ta còn nhớ, sinh thời, GS. Tạ Quang Bửu đã từng âm thầm chịu đựng trong nhiều năm lời “quy kết” là người theo “chủ nghĩa tài năng”, mất “lập trường giai cấp”! Sau khi qua đời, GS. Tạ Quang Bửu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về “Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học – kỹ thuật hiện đại sau năm 1945”. Để mãi mãi ghi nhớ cống hiến của ông cho cách mạng và khoa học, ở Hà Nội, có một đường phố mang tên phố Tạ Quang Bửu chạy xuyên qua Trường đại học Bách khoa, nơi ông từng làm hiệu trưởng vào những ngày đầu trường mới thành lập. Thời gian trôi nhanh! Thấm thoắt đã đền dịp kỷ niệm l00 năm ngày sinh GS. Tạ Quang Bửu. Là nhà báo, nhà văn, là đồng hương Nam Đàn, Nghệ An, và cũng là người em họ của GS. Bửu, tôi trân trọng ghi lại đôi điều về con người quá cố vô cùng đáng kính ấy, con người mà, khi ông còn sống, tôi đã may mắn có mối quan hệ chân tình gần gũi…

Cập nhật theo:Tinmoi.vn

Đón những nam sinh rinh bạc, vàng về Tổ quốc

- 10h sáng nay (18/7), đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế đã về tới sân bay Nội Bài, mang về 1 huy chương (HC) vàng, 4 HC bạc và 1 HC đồng. Có một điều ngẫu nhiên, cả 4 huy chương Toán quốc tế năm nay, gia đình đều khó khăn.

Kết quả năm nay, theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Quang Quý, “là thành tích đáng tự hào. Phần lớn HS tham dự đội tuyển đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các em đều có ý thức vượt khó vươn lên trong học tập”. “Kết quả toàn đoàn đứng thứ 11/97 đã phản ánh đúng năng lực và trình độ của HS” – GS Hà Huy Khoái, Trưởng đoàn HS Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế nhận định.

’Thứ
Thứ trưởng Trần Quang Quý và “Gương mặt vàng” Nguyễn Ngọc Trung

Vẫn theo GS Hà Huy Khoái, đề thi Toán quốc tế năm nay khó hơn năm trước nên kết quả đạt được phản ánh đúng năng lực của HS.

Gương mặt vàng: “Thi là một cuộc chơi…”

a
Trung cùng gia đình, thầy cô…

Khi biết kết quả toàn đoàn, em rất vui, nhưng cũng có một chút tiếc nuối. Nếu Hiếu không bị mất 1 điểm thì kết quả toàn đoàn sẽ cao hơn. Sau đó, em đã động viên Hiếu và các bạn “thi là một cuộc chơi. Thua keo này ta bày keo khác…”. Cậu học trò đất Tổ có cách nói chuyện tự tin. Nhưng khi nói về kết quả của mình, Trung khiêm tốn “dù em được 28 điểm trong tổng số 42 điểm, đứng đầu trong đoàn HS Việt Nam nhưng so với các bạn HS các nước thì vẫn còn phải nỗ lực nhiều”.

Đón Trung từ Astana – Kazakhstan trở về, không chỉ có bố cùng hai bên nội ngoại mà còn có các thầy cô dạy dạy cậu từ cấp 2 và cấp 3.

Gương mặt mọi người đều ánh lên niềm tự hào. Ông Nguyễn Văn Giới, bố Trung không giấu nổi niềm vui “cháu được như hôm nay chủ yếu do thầy cô dạy bảo. Tôi làm nghề thợ mộc nên chỉ động viên cháu một phần kinh phí mua sách….chứ cháu học thế nào, tôi đâu có biết “.

2 huy chương bạc: “Niềm vui tặng mẹ”

Mô tả ảnh.
Nguyễn Kiều Hiếu (trái) và Phạm Việt Cường (phải).

Nguyễn Kiều Hiếu là con trai duy nhất trong một gia đình vừa khó khăn, vừa neo người. Cha bị bệnh mất khi Hiếu còn bé. Nhưng niềm say mê học Toán từ năm lớp 4 đã giúp Hiếu chiếm được cảm tình “đặc biệt” của các thầy cô khi vào học THPT.

Phạm Việt Cường, bạn đồng hương, cũng là đồng môn (cùng Trường THPT Lê Qúy Đôn, Đà Nẵng) và cùng nhận HC đợt này, có cuộc sống cũng khó khăn không kém. Cha Cường làm nghề cắt tóc, mẹ là giáo viên cấp 1. Thu nhập không đủ chi phí sinh hoạt thường ngày

Theo lời phó Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn (Đà Nẵng) Huỳnh Nhứt, hàng tháng, nhà trường vẫn có hỗ trợ tiền học cho Hiếu và Cường.

Với khả năng say mê học toán được nhà trường phát hiện từ năm lớp 10, cả hai em đều được các thầy cô quan tâm.

Đặc biệt, thầy giáo Nguyễn Duy Thái Sơn đã coi hai em như con và các em đã nhận thầy làm “cha đỡ đầu”.

Theo bảng tổng sắp thì đoàn có kết quả đứng đầu Olympic Toán học quốc tế 2010 là Trung Quốc, tiếp theo là Nga, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, nước chủ nhà đứng thứ 5. Đoàn Việt Nam vẫn giữ được danh hiệu là một trong những đội giành thành tích cao – đứng thứ 11 trên tổng số 96 nước và vùng lãnh thổ với hơn 500 thí sinh tham gia dự thi.

Thầy Sơn nói “khả năng say mê học Toán của Hiếu và Cường giúp thầy – trò như những người bạn. Tôi cho các em mượn sách, chỗ nào không hiểu thì hỏi lại và chúng tôi cùng trao đổi tìm lời giải…”.

Kỳ thi này, Hiếu đạt 22 điểm và Cường mang 21 điểm về.

Dù không có ba, mẹ đón ở sân bay như các bạn, nhưng niềm vui đến ở những giây phút đầu tiên khi chưa về Việt Nam, cả Hiếu và Cường đều muốn mang về tặng mẹ….

Hiếu nói: “Lúc lên đường đi thi, em chỉ cầu mong được HC đồng, vậy mà kết quả đạt được cao hơn nên em rất vui..”.

Còn Cường xác định, vì gia đình khó khăn nên phải học. “Phải học giỏi mới có thể thay đổi được cuộc đời – bố mẹ luôn căn dặn thế”, Cường nói. Điều răn dạy của bố mẹ mà Cường luôn khắc sâu đó là “phải khiêm tốn”…

Huy chương đồng: “Tiếc vì tâm lý thi không tốt…”

a
Nguyễn Minh Hiếu

Nguyễn Minh Hiếu, quê ở Hà Tây, bố là công nhân. Hiếu theo học Trường THPT Chuyên Toán – Tin (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Hà Nội). Cậu cũng là HS duy nhất “ẵm” chiếc HC đồng làm cả đoàn thở dài tiếc nuối. Tổng điểm bài thi, Hiếu đạt 20/ 42. Hiếu nhìn nhận, dù được giải đồng nhưng không vui lắm. Bởi, khi làm bài đã để mất 1 điểm vào câu 1 – câu dễ không phải câu khó. Sau khi thi xong, Hiếu có trao đổi với thầy và cũng hy vọng vì nhận câu trả lời “câu đó sai sẽ bị trừ điểm nhưng không nhiều” – khi đó em cảm thấy bình thường. Đến khi, biết kết quả bị trừ 1 điểm, đồng nghĩa với nhận HC Đồng, Hiếu có cảm giác thất vọng.“Được thầy cô và các bạn trong đoàn động viên, em rút ra đó là do sơ xuất của mình”, Hiếu nói. Có thể do lần đầu đi thi nên tâm lý hơi lo lắng đã ảnh hưởng đến quá trình làm bài.

Bài học rút ra cho Hiếu, dù bước vào kỳ thi nhỏ hay lớn, quan trọng hay không thì tâm lý rất quan trọng. Chuẩn bị tâm lý tốt thì bước vào cuộc thi sẽ có kết quả tốt.

Qua cuộc thi này, Hiếu cũng học hỏi được một số kinh nghiệm của các bạn HS quốc tế. Đặc biệt, Hiếu khâm phục thí sinh đến từ Trung Quốc. Với đề khó như năm nay, vẫn có bạn đạt điểm tuyệt đối 42/42.

Cập nhật từ :Tinmoi.vn