Posts tagged kinh tế
Ngành Kỹ thuật công nghệ, Kinh tế chiếm ưu thế
Jan 5th
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT trong năm 2010, nhóm ngành Kỹ thuật công nghệ chiếm tỷ lệ cao nhất về số sinh viên theo học (32,78% trên tổng số 460.148 sinh viên đại học), tiếp đó là nhóm ngành Kinh tế với 27,72%.
Nhiều trường tốp trên thắt chặt chỉ tiêu
Chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục, kế hoạch của Bộ GD-ĐT khuyến khích các trường ĐH lớn giữ ổn định quy mô đào tạo đại học chính quy, tăng chỉ tiêu đào tạo sau đại học. Do vậy, nhiều trường ĐH tốp trên đã tuyên bố năm 2011 không tăng chỉ tiêu mà giữ ổn định như những năm trước, mặc dù có trường dự kiến tăng nhưng chỉ tăng chút ít, không đáng kể.
Cụ thể, ĐH Quốc gia Hà Nội tuyển 5.500 chỉ tiêu (CT) ĐH hệ chính quy; Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, dự kiến là 4.000 CT; Trường ĐH Y Hà Nội dự kiến 1.000 CT; Học viện Bưu chính – Viễn thông dự kiến hệ ĐH, CĐ là 2.650 CT; Trường ĐH Bách khoa Hà Nội dự kiến tăng khoảng 200 CT so với năm 2010 với khoảng 4.800 – 5.000 CT bậc ĐH và 800 CT bậc CĐ; Trường ĐH Ngoại thương dự kiến tuyển 3.000 CT bậc ĐH chính quy, 300 CT theo nhu cầu xã hội, 300 CT bậc CĐ; Trường ĐH Giao thông vận tải Hà Nội dự kiến năm 2011 tăng khoảng 5%, cụ thể, bậc đại học khoảng 4.800 CT và khoảng hơn 4.500 CT các hệ khác; Học viện Ngân hàng, chỉ tiêu năm 2011 không tăng so với năm trước khoảng 2.300 chỉ tiêu hệ ĐH và 1050 hệ CĐ.…
Với những trường trên, chỉ tiêu ít, điểm chuẩn cao nhưng vẫn hút thí sinh vào vì ra trường dễ kiếm việc làm, được xã hội đánh giá cao. Không kể nhóm ngành Kỹ thuật, nhóm ngành Kinh tế từ nhiều năm nay vẫn “hút” thí sinh, khối ĐH hiện nay sinh viên nhóm ngành này là 133.279 sinh viên (chiếm tỷ lệ 28,96%); hệ CĐ có 9.007 sinh viên, chiếm tỷ lệ 47,41% trên tổng số 53.130 sinh viên.
Nhận xét về ngành học “nóng” hiện nay, PGS.TS Tô Ngọc Hưng, Giám đốc Học viện Ngân hàng phân tích: “Lĩnh vực ngành Tài chính – Ngân hàng luôn được xã hội quan tâm, bởi lẽ đây là ngành mà trong những năm vừa qua số lượng tuyển dụng lao động khá lớn do điều kiện về kinh tế xã hội phát triển. Nguồn nhân lực cho lĩnh vực này thời gian tới sẽ mở rộng không chỉ về mạng lưới mà còn mở rộng cả về nhân lực vì các ngân hàng trong giai đoạn 5 năm tới sẽ phát triển nhiều các dịch vụ mới để cạnh tranh không chỉ các ngân hàng trong nước mà cả các ngân hàng nước ngoài”.
Ông Nguyễn Quang Dong, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết: “Đến nay vẫn chưa có dự báo nào của quốc gia về nhu cầu lao động và số người đăng ký vào học các ngành Kinh tế, Tài chính – ngân hàng giảm. Nếu có thay đổi thì phải chục năm nữa vì những ngành khoa học cơ bản, công nghệ, kỹ thuật phải chuyển dịch, nếu không sẽ thiếu nhân lực”.

Ngành tiềm năng nhưng ít thí sinh
Cũng theo thống kê của Bộ GD-ĐT, đứng sau nhóm ngành Kinh tế là Sư phạm với 17,68% (trên tổng số 460.148 sinh viên đại học), Nông lâm ngư 8,67%, ngành Xã hội nhân văn 7,15%, Khoa học tự nhiên 2,72%, nhóm ngành Y 2,02% và nhóm ngành Nghệ thuật, Thể dục thể thao 1,26%.
Nhóm ngành Nông lâm ngư và Khoa học tự nhiên là 2 nhóm ngành có tiềm năng rất lớn trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều thí sinh lại chưa biết đến những tiềm năng này.
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa thống kê cả ngành hiện nay mới có gần 50.000 người. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên cho biết, cơ cấu nhân lực giữa các ngành chuyên môn đang có sự mất cân đối: Nhân lực quản lý đất đai chiếm 52,2% trên tổng số nhân lực, trong khi nguồn nhân lực tài nguyên nước và khí tượng thủy văn chiếm 1%, địa chất, khoáng sản chiếm 1,8%… Với tình hình thực tế hiện nay, nhu cầu nguồn nhân lực được đào tạo các chuyên ngành Tài nguyên và môi trường để bổ sung lực lượng công chức, viên chức đang công tác trong đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2011 – 2015 lên đến 4,5 vạn người. Với sự phát triển khoa học công nghệ ngành Tài nguyên và Môi trường, thời gian tới tập trung tăng cường cho một số lĩnh vực như đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ, địa chất khoáng sản và một số chuyên ngành mới…
Lãnh đạo Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) cũng cho biết, một số ngành học như Công nghệ Biển, Khoa học Vật liệu, Khí tượng Thủy văn… là những ngành học đang trong tình trạng có nhu cầu xã hội cao nhưng khó tuyển sinh vì hiện nay nhiều sinh viên chưa biết.
Dự kiến trong năm 2011, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên sẽ tạm dừng tuyển sinh với một số ngành học khó tuyển sinh để điều chỉnh và tìm hiểu thêm về nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, trường tăng chỉ tiêu tuyển sinh đối với các ngành dễ tuyển, có nhu cầu xã hội cao. Một số ngành khoa học cơ bản khó tuyển sinh nhưng là nhiệm vụ chiến lược, có vai trò quan trọng trong phát triển nhân lực của đất nước, ĐHQGHN sẽ linh động trong áp dụng điểm sàn để thu hút thí sinh đăng ký.
Theo tuyên bố của Bộ GD-ĐT, tuyển sinh 2011 Bộ sẽ tăng cường giám sát chặt chẽ chỉ tiêu tuyển sinh đối với những trường thành lập trước năm 2010 nhưng chưa xây dựng được cơ sở riêng tại địa điểm theo hồ sơ đăng ký thành lập. Do vậy, dự kiến tuyển sinh 2011, nhiều trường ĐH sẽ bị Bộ cắt giảm chỉ tiêu.
Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết, trong năm 2011 sẽ tổ chức hội thảo chuyên đề về tuyển sinh và tham khảo rộng rãi ý kiến của các trường, Sở GD-ĐT và trong toàn xã hội để xác định phương thức tuyển sinh hợp lý cho những năm sắp tới.
Theo dantri.com.vn
GS Ngô Bảo Châu: không phải chúng tôi đòi ưu tiên hơn
Sep 3rd
- GS Ngô Bảo Châu nói cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ.
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Hương Giang |
Trong buổi gặp gỡ với báo chí sáng nay, cùng các đồng nghiệp làm toán ở Hội Toán học, Viện Toán học Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ câu chuyện về Viện Nghiên cứu cấp cao về toán đang trong lộ trình hình thành, sau khi Chính phủ ban hành chương trình trọng điểm quốc gia về toán học.
Mở đầu buổi gặp, GS Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học giải thích ngay, chương trình trọng điểm này do Bộ GD-ĐT chỉ đạo, không phải chương trình của Viện Toán học.
Thưa GS, viện nghiên cứu cấp cao về toán thuộc sự vận hành của Bộ GD-ĐT thì có thuận lợi và khó khăn gì?
GS Ngô Bảo Châu: Theo tôi hiểu, viện đó có quy chế đặc biệt, độc lập với Bộ GD – ĐT, biên chế sẽ rất ít. Bộ có lẽ chỉ quản về chính sách chung, còn điều hành do ban lãnh đạo của viện.
Khi nhìn vào nhà toán học, cứ tưởng nhà toán học ngồi trong phòng làm việc một mình, cái đó rất quan trọng.
Nhưng động lực chính cho phát triển khoa học, cũng như toán học nói riêng, chính là sự kết hợp với nhau, thậm chí toán học có thể kết hợp với vật lý, khoa học máy tính, sinh học, kinh tế. Một trong những tư tưởng then chốt là sự kết hợp các nhà khoa học có khả năng, điểm trội khác nhau.
Các ngành khác nhau đã đành, các nhà toán học làm việc ở Việt Nam, và các nhà khoa học trẻ đã được đào tạo ở nước ngoài.
Chúng tôi hy vọng, do cơ sở tốt của viện đang hy vọng được thành lập, lôi cuốn họ về Việt Nam làm việc 1 thời gian. Có thể không phải là vĩnh viễn, 6 tháng thôi, nhưng kết hợp, dần cuốn hút để nhiều nhà khoa học về Việt Nam làm việc hơn.
Cá nhân tôi thì công việc chính vẫn làm GS ở ĐH Chicago. Nhưng nếu viện thành lập, từ tháng 6 đến tháng 8, tôi sẽ ở Việt Nam, trực tiếp tham gia vào tổ chức khoa học, làm khoa học ở Việt Nam. Ban lãnh đạo gọn nhẹ, nhưng có trách nhiệm tuyển chọn hồ sơ theo lí lịch khoa học, đề tài nghiên cứu, khả năng hợp tác. Chúng tôi không khuyến khích những người làm việc một mình. Khi có việc quan trọng, tôi sẽ tham gia trực tiếp.
![]() |
| GS Lê Tuấn Hoa |
GS Lê Tuấn Hoa: Trong đề án ban đầu của ban soạn thảo, viện này có tên là viện đào tạo và nghiên cứu cấp cao về toán. Sau khi đóng góp ý kiến, chỉ còn tên viện nghiên cứu cao cấp về toán. Hiện nay, đang trong quyết định phê duyệt đến lúc có thành lập được hay không thì sẽ có tên khác.
Chương trình này trực thuộc Bộ GD-ĐT vì mục đích phục vụ nhà toán học trong nước, lực lượng trong nước ở các trường; sau này, việc điều phối sẽ dễ dàng. Tất nhiên vẫn có một lượng đáng kể các nhà toán học nước ngoài về làm việc ở viện. Nếu không có sự tương tác như vậy thì không thể có sự phát triển toán học được. Ngay cả các nhà vật lý, sinh học, nếu trong công trình nghiên cứu của họ có sử dụng nhiều về toán thì cũng có thể mời đến để làm việc.
GS Ngô Bảo Châu có thể về nước 3 tháng hoặc ít hơn, nhưng không hạn chế khả năng đóng góp vì những trao đổi qua email là thường xuyên. Việc thành lập càng muộn thì việc GS Ngô Bảo Châu thu xếp được thời gian càng khó. Các nhà toán học đang hăng hái.
Khi viện thành lập thì sẽ có sự khác biệt thế nào với Viện Toán học hiện nay? Trong tương lai, có sáp nhập hai viện hay không?
![]() |
| GS Ngô Việt Trung. |
GS Ngô Việt Trung: Viện này khó nói.
Viện Toán học là đơn vị hành chính sự nghiệp, tuân thủ quy định hiện hành, nhưng có bất cập rất lớn là không có quyền đào tạo. Ví dụ, chúng tôi phải liên kết với ĐH Thái Nguyên để đào tạo. Vì vậy, cần có viện nghiên cứu với cơ chế đặc biệt, trước mắt cho sự nghiệp đào tạo, cho toán học là các ngành khoa học khác.
Các nước khác cũng tồn tại hai viện song song, như Hàn Quốc. Cái cơ cấu của viện không phải nghiên cứu cố định. Tôi nghĩ, có hội đồng khoa học quyết định. Những người đến đấy học cán bộ trẻ vẫn là cán bộ cơ quan trẻ của mình, nâng cao trình độ chuyên môn.
GS Lê Tuấn Hoa: Hai viện nghiên cứu khác nhau về cơ chế và phương thức hoạt động.
Viện Toán hiện nay có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu làm việc thường xuyên, được trả lương từ ngân sách nhà nước. Còn viện Toán cao cấp sẽ không trả lương. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong thời gian đến làm việc tại viện sẽ không được nhận lương mà nhận một khoản tài trợ nghiên cứu.
Trong thời gian đó, họ không phải giảng dạy, chỉ tập trung cho việc nghiên cứu. Thay vì đi công tác hay nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà toán học có một nơi để nghiên cứu ngay trong nước. Đây là mô hình có thể áp dụng cho nhiều ngành khoa học. Nhưng ngành toán xin được mở đầu , thử nghiệm trước vì kinh phí dành cho toán cũng rẻ, ít tốn kém hơn.
GS.Ngô Bảo Châu: Mô hình này thích hợp với khoa học lí thuyết, không thích hợp với khoa học thực nghiệm. Vì cán bộ luân chuyển thực nghiệm mà máy móc, phải luân chuyển thì không thể thực hiện được.
Chúng tôi tiên phong làm toán học trước không phải là muốn giành cho toán học một tài trợ gì đó. Nếu ngành khác muốn tham gia, chúng tôi rất ủng hộ.
15 năm trước, GS.Hoàng Tuỵ đã xây dựng một đề án thành lập một trung tâm nghiên cứu toán học trong công nghiệp và quản lí, cũng là một một mô hình đặc biệt, rất công phu, cũng đã trình lên trên và được ủng hộ. Rất tiếc là không vượt qua được trở ngại về mặt nhận thức và cơ chế quản lí.
Bây giờ, chúng ta có cơ chế mới. Chúng tôi rất tin và kì vọng vào điều này.
Các nhà khoa học nước ngoài cũng về nước nhiều, nhưng về với tư cáchtham gia một vài công việc nào đó, song lại đi. Chứ trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động khoa học thì chưa có.
Chúng ta cần huy động những trí tuệ đó. Đây là mô hình để họ tham gia, như một tập thể khoa học, tập hợp, tổ chức. Một cơ sở tạo điều kiện cho họ tham gia tổ chức, phát triển toán học.
Ngoài phần đầu tư từ ngân sách Nhà nước, viện có các nguồn tài trợ từ bên ngoài không?
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu cùng các đồng nghiệp ở Viện Toán học và các trường ĐH. Ảnh: Bùi Tuấn |
GS Lê Tuấn Hoa: Nếu chính phủ không có sự quan tâm đầu tư thì không thể thành lập được. Viện KIAS của Hàn Quốc có kinh phí hoạt động một năm là 18 triệu USD. Trong đó 15 triệu USD do chính phủ cấp, 3 triệu USD còn lại do viện tự vận động tài trợ từ cá nhân, doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, chưa thể kỳ vọng nhiều vào sự tài trợ của giới doanh nghiệp hay tài trợ từ xã hội. Ngân sách Nhà nước vẫn phải đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nghiên cứu khoa học cơ bản như toán học.
GS Ngô Bảo Châu: Viện nghiên cứu cao cấp Princeton có một khoản vốn từ tư nhân lên tới 500 triệu USD. Số vốn này được giữ cố định, lấy lãi hàng năm làm kinh phí hoạt động, như trả lương cho 50 GS cơ hữu của Viện, còn những người đến Viện đó làm việc ngắn hạn hàng năm như làm sau tiến sĩ (khoảng 70 người), hay làm nghiên cứu.. thì hoàn toàn do Nhà nước trả lương (qua quỹ NSF của Mỹ). Mỗi năm có hàng trăm các nhà khoa học đến làm việc tại viện.
Một trong những tôn chỉ hoạt động, mục đích của Viện NCCC Princeton là đào tạo sau tiến sĩ. Sau khi làm xong PhD (tiến sĩ), muốn làm việc chuyên nghiệp thì phải làm post doc (sau tiến sĩ). Thời gian làm post doc tạo ra cơ hội học hỏi từ người giỏi gần như số một thế giới, người có khả năng truyền cảm hứng hay có giải đáp nào đó mà có thể thay đổi công việc khoa học của người đó.
Viện IAS của Princeton có được khoản vốn 500 triệu USD là vì họ đã tích lũy trong 70 năm. Bây giờ chúng ta mới thành lập thì không thể làm giống như vậy, đạt được ngay như họ. Vì thế, chúng ta mới phải đặt ra vấn đề có một cơ chế đặc biệt cho hoạt động của viện.
Như GS Ngô Bảo Châu nói, một trong những mục tiêu của viện nghiên cứu cấp cao này là tạo vườn ươm cho các nhóm nghiên cứu. Liệu có tình trạng giảng viên từ các trường ĐH sau khi về viện làm việc một thời gian, nâng cao được trình độ, năng lực, sẽ tiếp tục ra nước ngoài nghiên cứu và không quay về trường cũ? Như vậy liệu có phải là một sự đầu tư lãng phí?
GS Ngô Bảo Châu: Cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Hiện nay, nhà nước cũng đang đầu tư rất nhiều tiền cho chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Nếu không có chính sách, việc thu hút những người cử đi đào tạo ở nước ngoài về cũng còn khó khăn, nói gì đến những người tự tìm kiếm được cơ hội đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.
Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ. Còn sau đó, nếu họ đã ổn định cuộc sống gia đình, công việc ở nước ngoài, việc thu hút họ về hẳn sẽ khó hơn. Việc hình thành một viện nghiên cứu có thể đảm nhận được việc đào tạo sau tiến sĩ ngay trong nước cũng là một điều kiện để thu hút các nhà khoa học sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ trở về Việt Nam.
GS Lê Tuấn Hoa: Nếu sau thời gian làm việc ở viện nghiên cứu cao cấp về toán, các nhà toán học Việt Nam đủ trình độ, uy tín được các GS nước ngoài nhận đi làm nghiên cứu tiếp thì theo tôi, đó là một điều đáng mừng, đáng tự hào chứ không đáng lo.
Trong bài phát biểu của anh Châu ở Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình có đề cập tới điều kiện cho khoa học phát triển lành mạnh là cần có tự do tuyệt đối. Đặt trong bối cảnh của mình hiện nay, nên hiểu ý của anh như thế nào?
GS Ngô Bảo Châu: Khoa học cơ bản do sự đầu tư, nhà nước có định hướng. Nhưng nếu nhà nước có chỉ định cụ thể, tôi không tin điều đó sẽ giúp cho khoa học phát triển. Tự do tức là việc tự nhà khoa học chọn làm, chứ không phải người khác bảo làm cái gì. Một ví dụ cụ thể, những nơi mà khoa học phát triển, chẳng hạn, Pháp đầu thế kỷ 19, Đức cuối thế kỷ 19 và Mỹ trong thế kỷ này, là những nơi mà tinh thần tự do học thuật đạt đến đỉnh cao.
Cập nhật theo:Tinmoi.vn
Sự thật về trường “dỏm” Irvine University liên kết với ĐHQG Hà nội
Aug 4th
Trường đại học này nằm trong một cao ốc cho thuê chỉ có năm nhân sự (kể cả hiệu trưởng).
Gần đây, báo chí Việt Nam đưa tin khoa Quản trị kinh doanh thuộc Trường ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức liên kết với Trường Irvine University (sau đây viết là IU) của Mỹ đào tạo 300 cán bộ giảng dạy lấy bằng thạc sĩ. Độc giả Thomas Nguyễn ở Bolsa, Little Saigon đã tìm đến trụ sở của IU và tường thuật cho báo Pháp Luật TP.HCM sự thật về IU.
Theo địa chỉ IU, 10900 183rd Street, Suite. #330 Cerritos, CA 90703, chúng tôi cố công tìm hiểu thực trạng về cơ sở và tổ chức của IU. Chúng tôi được ông Ronald Johnson – Hiệu trưởng của trường tiếp đón, ông rất thân thiện và hiếu khách, niềm nở trao cho chúng tôi danh thiếp với nội dung như sau: Mr. Ronald Johnson, M.A.Ed.Director of Administrations and Student Services.
Ông đưa chúng tôi đi tham quan tất cả tiện nghi phòng ốc và cơ ngơi của trường IU một cách nhiệt tình và ấm tình người. Sau đây là những thông tin cụ thể của trường này do ông Ronald Johnson cung cấp.
Tên của IU (hàng dưới cùng) nằm khiêm tốn trong bảng địa chỉ của tòa nhà cho thuê.
Chỉ có năm người, rộng gần 300 m2
Tổng số nhân sự cơ hữu của trường gồm năm người, trong đó một hiệu trưởng và bốn nhân viên (hai người Á Đông và ba người Mỹ).
Trường rộng gần 300 m2 ở góc trái của tầng ba (được thuê từ một tòa nhà ba tầng chuyên cho thuê văn phòng như ở Việt Nam với tên gọi là “Cerritos Professional Center”). Diện tích ấy được ngăn làm hai phòng học, mỗi phòng có sáu bàn và 12 ghế cho học viên. Trường có hai phòng hành chính, thư viện có bốn máy vi tính, vài trăm cuốn sách và một phòng họp với sáu ghế. Phòng họp này cũng là phòng học khi cần và phòng ăn nhỏ với bốn ghế để ăn trưa.
Chương trình chuẩn để đào tạo bậc cử nhân ở các trường ĐH tại Mỹ đòi hỏi sinh viên phải hoàn tất tối thiểu 120-128 tín chỉ tùy theo học Bachelor of Art (BA) hay học Bachelor of Science (BS). Muốn học lên thạc sĩ phải thi GMAT với ngành quản trị kinh doanh (MBA) hoặc thi LSAT khi muốn học luật và phải học thêm từ 30 đến 40 tín chỉ nữa.
Nhưng ở IU, chỉ yêu cầu 60 tín chỉ cho tất cả chương trình từ cử nhân. Còn thạc sĩ, chỉ cần học thêm 30 tín chỉ nữa là xong. Đại để là muốn trở thành thạc sĩ tại IU thì chỉ cần học 90 tín chỉ, chỉ bằng 3/4 số tín chỉ cần hoàn thành một bằng cửa nhân tại Mỹ. Thêm điều rất tiện lợi cho các học viên IU là không cần thi GMAT khi học thạc sĩ MBA và không cần thi LSAT khi muốn học luật.
Ông Ronald Johnson cũng cho tôi biết vừa mới giảng dạy tại vài trường ĐH ở Hà Nội và TP.HCM hai tháng và vừa về California tuần qua.
Chúng tôi hỏi ông Johnson giá học phí và tốt nghiệp như thế nào? Ông ta bảo: “Mỗi tín chỉ giá 200 USD, học theo chương trình online hoặc lớp chiều tối, cuối tuần. Xong 30 tín chỉ với giá 6.000 USD sẽ thi lấy bằng thạc sĩ. Nó rất phù hợp cho đào tạo từ xa như Việt Nam! Không cần đến Mỹ học và thi cũng có bằng MBA, MA về Tesol mà chỉ tốn khoảng 6.000 USD trọn gói” (MBA: Thạc sĩ quản trị kinh doanh hay MA Tesol: MA of Teaching English to Speaker of Other Language: Thạc sĩ Anh văn). Chúng tôi hỏi nếu học xong, ông có thể tìm cho tôi một việc làm không? Ông Ronald Johnson trả lời rất thân tình: “Tôi hứa với các anh sẽ tìm cho các anh một chân dạy tại các trường ĐH ở Việt Nam. Tôi mới giảng dạy bên ấy vài tháng và vừa mới về, bên đó rất cần giáo sư ĐH!”.
Một nét độc đáo của nước Mỹ là nền kinh tế thị trường mở và tự do nên bất kỳ ai cũng có thể thành lập tổ chức để kinh doanh ngay cả trong giáo dục, miễn sao chịu đóng thuế và lệ phí cho chính phủ đầy đủ là sẽ được chấp thuận. Chính điều đó, có rất nhiều trường ĐH tư chỉ kinh doanh bằng cấp và chỉ để có lợi nhuận. IU là một trong những trường ĐH tư trong số đó.
Để thành lập IU, ông hiệu trưởng hay một người nào đó chỉ cần làm đơn xin thành lập trường như là xin thành lập một đơn vị kinh doanh bất kỳ như một tiệm nail hay bán nước sinh tố và được Bureau for Private Postsecondary Education thuộc Department of Consumer Affairs cấp chứng nhận kinh doanh mà không cần các tổ chức kiểm tra và đánh giá chất lượng ĐH công nhận.
Chúng tôi đã tìm kiếm và kiểm tra tất cả chương trình được cấp phép giảng dạy của IU trên trang web chính phủ Mỹ: http://www.ope.ed.gov/accreditation/Search.aspx thì không thấy có bất kỳ chuyên ngành nào của trường IU được công nhận.
Theo:vietnamnet





