Posts tagged khoa học

‘Không nhân nhượng học sinh đánh bạn, quay clip’

Đề xuất giải pháp cho nạn bạo lực học đường đang đến mức báo động, Giám đốc Sở Giáo dục TP HCM cho rằng, phải quy định giờ ra vào của học sinh trong các quán trà sữa và dùng pháp luật chế tài học sinh đánh bạn.

Chiều 9/12, đăng đàn trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND, ông Huỳnh Công Minh, Giám đốc Sở GD&ĐT TP HCM thừa nhận bạo lực học đường đang đến mức báo động. Lý giải cho tình trạng này, ông cho rằng gia đình bất hòa và mối quan hệ bạn bè thực dụng làm thay đổi lý tưởng sống, bộc phát những hành động thiếu kiềm chế. Tâm sinh lý học sinh thay đổi cũng là một nguyên nhân quan trọng.

“Việc học sinh chọc ghẹo, đánh nhau không phải là mới trong nhà trường. Nhưng càng ngày càng nghiêm trọng bởi các em đánh nhau có hung khí làm chết người, đánh nhau có tổ chức, băng nhóm và ghi hình phát tán, thậm chí có sự tham gia của gia đình”, ông kết luận.

Người đứng đầu ngành giáo dục của thành phố đã kiến nghị lên HĐND nhiều biện pháp và thiết chế quản lý học sinh vi phạm kỷ luật. “Thiết chế tổ chức quản lý ấy phải được thể hiện bằng quy chế luật pháp”, ông Minh nói.

Đồng tình với ông Minh về nguyên nhân của bạo lực học đường nhưng đại biểu Phạm Minh Trí không chấp nhận biện pháp xử lý học sinh bằng quy chế luật pháp. “Tôi không chấp nhận giải pháp như ông Minh nói là cần phải có luật lệ. Ở đây luật lệ không giải quyết được vì những em đó vẫn đang ở độ tuổi vị thành niên hiếu động. Giải pháp tốt nhất là vấn đề tâm lý kết hợp với gia đình”, ông Trí nhấn mạnh.

Còn đại biểu Nguyễn Văn Bạch thì bức xúc: “Đồng chí báo cáo là có cả băng nhóm, vấn đề ở chỗ vai trò của nhà trường như thế nào mà để sinh ra băng nhóm? Việc quản lý của thầy cô giáo ở trong lớp ra sao, có kịp thời phát hiện những băng nhóm đó không? Liệu chương trình giáo dục của chúng ta đã chú tâm đào tạo phẩm chất đạo đức con người chưa?”.

Trả lời chất vấn, ông Minh nhất trí với ý kiến của đại biểu và thừa nhận chưa “làm triệt để được”. Vị lãnh đạo Sở cũng đưa ra đề nghị những nơi kinh doanh như quán trà sữa cần phải có quy định nghiêm ngặt với học sinh như quy định giờ ra vào…

Đưa ra dẫn chứng cụ thể về vụ một nữ sinh lớp 8 bị cởi đồ, tra tấn tại lớp, đại biểu Lê Thanh Hải chất vấn: “Bạo lực học đường như ở trường Mạch Kiếm Hùng xảy ra ngay tại lớp chứ không phải ở ngoài khuôn viên nhà trường. Tôi không hiểu cách quản lý của nhà trường với các em như thế nào? Tôi đề nghị anh cho biết các giải pháp ngành giáo dục trong thời gian sắp tới trong việc quản lý học sinh?”.

Đáp lại, vị giám đốc Sở cho biết: “Chúng tôi được chỉ đạo đuổi học một năm đối với em chủ mưu đánh bạn và em quay phim phát tán lên mạng. Còn giáo viên chủ nhiệm các em bị khiển trách”.

Trước câu hỏi của đại biểu Phạm Quý Cường về biện pháp hữu hiệu đối với vấn nạn trên vì thực tế có em bị đánh rồi không dám đi học, có trường hợp khác bị kỷ luật nghỉ học khi về gia đình thêm hư hỏng…, ông Minh cho biết, do thời gian có hạn nên sẽ có câu trả lời cụ thể với đại biểu Cường sau. “Nếu phát hiện tiêu cực, thì tính nghiêm túc để giải quyết trước sau như một của Sở là không nhân nhượng mặc dù đó chỉ là học sinh”, ông nhấn mạnh.

Tỏ ra hoài nghi về những biện pháp mà Sở GD&ĐT TP HCM đã làm, ông Nguyễn An Bình chất vấn: “Không biết Sở đã có cuộc điều tra tìm hiểu tỷ lệ bạo lực trong học đường ở các trường thuộc hệ thống công lập của mình so với hệ thống trường tư thục ở nước ngoài nhiều hay ít? Nếu đã làm rồi thì kết quả đó cho ta nhìn nhận gì?”

Ngay lập tức, ông Minh đáp: “Khi vụ học sinh đánh nhau ở Hà Nội xảy ra, lập tức chúng tôi tổ chức hội thảo với hơn 400 nhà khoa học và sư phạm về vấn đề này để đánh giá thực trạng bạo lực đó ở mức độ nào để tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Sau đó, chúng tôi có mời lãnh đạo của Bộ GD&ĐT vào tham dự. Và Bộ đã chỉ đạo là in thành kỷ yếu để gửi cho tất cả các trường trên cả nước”.

Ngoài vấn đề “nóng” bạo lực học đường, các đại biểu cũng đã chất vấn Giám đốc Bộ GD&ĐT Huỳnh Công Minh về các vấn đề giáo dục mầm non, trường công lập tự chủ tài chính, vấn đề dạy thêm và học thêm, lương giáo viên quá thấp, việc thu học phí chưa công bằng…

Theo:vnexpress

Top 10 từ khóa Yahoo VN – GS. Ngô Bảo Châu dẫn đầu

Khác với mọi năm, người đứng đầu danh sách từ khóa tìm kiếm thường là các ngôi sao giải trí, năm nay với sự kiện GS. Ngô Bảo Châu lần đầu tiên đoạt huy chương Fields, tên ông được người dùng Internet quan tâm tìm kiếm nhất trên Yahoo Việt Nam.


GS Ngô Bảo Châu trở thành từ khóa tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo Việt Nam.
Tìm kiếm trên Internet trở thành hoạt động không thể thiếu của người dùng Internet. Ở Việt Nam, xu hướng tìm kiếm cũng thể hiện những mối quan tâm chung của người dùng Internet đối với World Cup, bão lụt miền Trung và các ngôi sao. Tuy nhiên, năm nay, những câu chuyện về người Việt thành đạt, các vấn đề tài chính, và tội phạm mới thực sự là những chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo! Việt Nam.

Khi lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà toán học Việt Nam được trao huy chương Fields danh tiếng (còn được coi là giải Nobel của Toán học), người Việt Nam đã như vỡ òa trong niềm tự hào và háo hức tìm hiều về vị giáo sư trẻ tuổi ít được biết đến trước đây này. GS Ngô Bảo Châu đã trở thành từ khóa được quan tâm nhất trong năm nay.

Năm 2010 cũng chứng kiến những dao động chóng mặt của giá vàng tại Việt Nam. Từ khóa phổ biến thứ 2 trên Yahoo Việt Nam là giá vàng. Đứng ở vị trí tiếp theo là giải thi đấu World cup 2010, ca sĩ Hồ Ngọc Hà, và kẻ giết người Nguyễn Đức Nghĩa…

Sự kiện được nhắc đến nhiều nhất trong năm qua tại Việt Nam là lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Mặc dù được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10, những hoạt động tại lễ kỷ niệm với đầu tư kỹ càng và hoành tráng này đã thu hút sự chú ý của người dân cả nước từ đầu năm 2010.

Không giống như những nước trong khu vực, năm nay, người dùng Internet Việt Nam không tìm kiếm các từ khóa được xem là “hot”, như iPad, iPhone và các ngôi sao quốc tế. Một cái tên nước ngoài duy nhất lọt vào danh sách này và đứng ở vị trí thứ 10 là diễn viên Hàn Quốc, Kim Hyun Joong, người đã hút hồn các cô gái trẻ qua các bộ phim truyền hình.

10 từ khóa tìm kiếm “hot” nhất năm 2010 trên Yahoo! Việt Nam:

1. Ngô Bảo Châu

2. Giá vàng

3. World cup 2010

4. Hồ Ngọc Hà

5. Nguyễn Đức Nghĩa

6. Đàm Vĩnh Hưng

7. Kim Hiền

8. 1000 năm Thăng Long Hà Nội

9. Lũ lụt miền Trung

10. Kim Hyun Joong

Theo dantri.com.vn

GS Ngô Bảo Châu được tôn vinh tại Pháp

Tối 16/11, lễ tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng Fields 2010 đã diễn ra trọng thể tại hội trường lớn Khoa Toán Trường đại học Paris 11, ở thành phố Orsay, ngoại ô Paris, Pháp.

Trong diễn văn khai mạc lễ tôn vinh, Chủ tịch Đại học Paris 11, ông Guy Couarraze đã khẳng định niềm tự hào của khoa Toán và Đại học Paris 11 được đón tiếp người học sinh cũ, người đã đoạt giải thưởng Clay danh giá năm 2007 cùng với giáo sư Gérard Laumon khi giải quyết hoàn toàn bổ đề cơ bản. Công trình này cũng được tạp chí Time của Mỹ xếp là 7 trong 10 khám phá khoa học nổi bật của thế giới năm 2009.

Theo ông Couarraze, trong con người Ngô Bảo Châu nổi lên hai điều vô cùng quý giá, đó là tuổi trẻ của người học trò đam mê khoa học và sự trung thành với đất nước Việt Nam nơi đã sinh ra anh.

Ông Couarraze cho rằng Ngô Bảo Châu là “cây cầu nối” quý báu thúc đẩy hợp tác Pháp-Việt trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học, được đánh dấu bằng dự án hợp tác giữa trường Đại học Paris 11 với Đại học Khoa học và công nghệ Hà Nội.

Phát biểu tại lễ tôn vinh, Bộ trưởng Đại học và Nghiên cứu của Pháp, bà Valérie Pécresse khẳng định Ngô Bảo Châu là vị giáo sư của ba nước (Pháp, Việt Nam và Mỹ), đại diện cho ba châu lục (châu Âu, châu Á và châu Mỹ).

Bà Pécresse nhấn mạnh Giải thưởng Fields mà Ngô Bảo Châu giành được là phần thưởng cao quý đối với ngành toán học nói chung, Việt Nam nói riêng, đồng thời đem lại niềm vinh dự cho ngành toán học Pháp, đặc biệt là Đại học Paris 11. Bà Pécresse bày tỏ vui mừng trước quyết định của giáo sư Ngô Bảo Châu trong việc tạo dựng cầu nối nghiên cứu khoa học giữa ba châu lục.

Đề cập đến vinh quang của Ngô Bảo Châu, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp Lê Kinh Tài cho rằng giải thưởng Fields là niềm tự hào của ngành giáo dục, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo Việt Nam, Pháp và Mỹ đã giúp đỡ, giảng dạy và đồng hành cùng Ngô Bảo Châu trong suốt chặng đường học tập, nghiên cứu và rèn luyện của anh.

Đại sứ bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng với sự giúp đỡ của chính phủ Pháp, của các giáo sư, nhà nghiên cứu Pháp, và đồng nghiệp Việt Nam cùng quyết tâm của giáo sư Ngô Bảo Châu, sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu Việt-Pháp sẽ ngày càng “đơm hoa kết trái.” Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện để giáo sư Ngô Bảo Châu có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của ngành toán học nước nhà.

Đại sứ Lê Kinh Tài cho biết hiện có khoảng 6.000 sinh viên và gần 700 nghiên cứu sinh tiến sĩ Việt Nam đang theo học và làm các đề tài nghiên cứu tại Pháp.

Bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được có mặt tại nơi trải qua những tháng ngày học và nghiên cứu Toán, giáo sư Ngô Bảo Châu nói rằng Paris 11 chính là nơi đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời khoa học của anh.

Ôn lại kỷ niệm về người thầy đã tận tình giúp anh từ buổi chập chững ban đầu đọc hiểu từng trang tài liệu, Ngô Bảo Châu muốn chia sẻ niềm tin rằng nơi đây sẽ tiếp tục gieo mầm cho những thành công lớn về toán học trong tương lai.

Theo Vietnam+

Du học sinh: ‘Tôi mơ về Hà Nội…’

Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, Hồ Bích Ngọc (du học sinh trường INSA de Rouen, Pháp) cũng như nhiều du học sinh khác nuối tiếc vì không được “tắm mình” vào không khí của Đại lễ. Ngọc xa Hà Nội đã được 2 năm. Những ngày này, không khí chào mừng Đại lễ tràn ngập các báo làm cho nỗi nhớ của Ngọc càng sục sôi hơn.

Ngọc chia sẻ: “Thèm được về nhà quá! Cảm giác như Hà Nội sắp đón Tết ấy. Nhưng mùng Một Tết Hà Nội không náo nhiệt như bây giờ. Mình không thích Hà Nội quá ồn ào”.

Tiếc vì không thể về, Ngọc càng nhớ Hà Nội hơn: “Nhớ nhất là sự tấp nập của phố cổ. Mình có sở thích là gửi xe trên phố Cầu Gỗ rồi đi bộ lòng vòng. Thực ra cũng chẳng có gì để xem, chỉ là hàng quán nối tiếp hàng quán.

Nhưng đặc biệt ở chỗ, đi vào một phố nào đó chỉ cần ngửi bằng mũi thôi mình cũng có thể biết đó là phố nào. Phố Thuốc Bắc có mùi thuốc rất thơm, phố Hàng Mành có mùi bún chả, phố Hàng Than có mùi bánh cốm, phố Hàng Đường có mùi ô mai,…Những thứ đó khi ra nước ngoài ta không thể nào gặp được”.

Mô tả ảnh.

Du học sinh Lê Gia Lệ Thi (thứ 2 bên trái): “Em mong muốn Hà Nội sẽ luôn êm ấm, nhân hậu, đầy yêu thương và chở che để những đứa trẻ như chúng em trưởng thành mà không có gì phải nuối tiếc. Hà Nội của 1000 năm sau vẫn sẽ giữ được những vẻ đẹp cổ kính, lắng sâu như 1000 năm trước. Hà Nội của 1000 năm sau sẽ có những môi trường học tập tốt nhất để những đứa trẻ sau này sẽ không phải đi xa mà vẫn được hưởng thụ những giá trị giáo dục và tinh thần tốt nhất

Lê Thi vừa xa Hà Nội để sang học một trường THPT ở Huntington Beach, California (Mỹ) nên nỗi nhớ Hà Nội của cô gái 15 tuổi này càng tha thiết. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, không khí mùa thu là điều gắn bó với cô nữ sinh này nhất.

“Vì mùa thu là mùa có sinh nhật mẹ và cả nhà luôn luôn được xuống phố để rồi được ăn những món ăn nóng hổi bốc khói nghe ngút” . “Còn một điều rất nhớ nữa là mùng 1 Tết, em được mặc áo dài để đi chúc tết bà ngoại, được ăn bánh trưng do mẹ nấu, được ăn cá kho do ba làm, và ăn khoai lang ldo anh chị luộc…”

Điều khiến Thi luyến tiếc là trong chuyến đi học nhiều năm nay, em chỉ có thể mang đến nước Mỹ chiếc áo dài, nhưng những gì thân thương nhất của Hà Nội vẫn lắng đọng trong trái tim.

Cũng xa nhà, Nguyễn Duy Phong (du học sinh trường Đại học Vân Nam, Trung Quốc) càng tiếc hơn khi không thể về nước mừng Đại lễ. “Mình đã dành dụm tiền và lên kế hoạch bay về Việt Nam vào dịp này nhưng không ngờ lịch học lại thay đổi.

Tiếc lắm chứ, vì nghìn năm mới có một lần. Nhưng bố mẹ bảo việc học vẫn là quan trọng nhất. Thế là đành ngập ngùi ngồi chat với bạn bè, bảo tụi nó đi chơi rồi gửi ảnh qua cho đỡ nhớ”, Phong chia sẻ.

“Nếu bây giờ mà ở nhà thì mình đã vi vu phố cổ, lượn Bờ Hồ, overnight (thâu đêm) luôn í chứ. Mình có nhóm bạn vẫn thường tụ tập overnight vào những dịp lễ, tết. Chúng mình không đi nhảy nhót, bia bọt gì đâu, chỉ đi loanh quanh phố cổ để chụp ảnh thôi. Đơn giản vì thích Hà Nội về đêm”, Phong chia sẻ thêm.
  • La Hoàn

“Tôi mơ về Hà Nội…”

1. Châu Dứa ( Đang học tập và sinh sống tại Nhật Bản)

Mình sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nên vẫn luôn nhớ về. Nhớ nhất là mùa thu Hà Nội vì mùa thu đẹp và gắn với nhiều kỷ niệm.

Thời gian này bố mẹ thường xuyên gọi điện cho mình vì thương con không được đón không khí nghìn năm. Sự phấn khởi của các cụ khiến mình rất vui. Các cụ cao tuổi vẫn thường có những tình cảm thuần khiến như thế.

Mô tả ảnh.
Châu Dứa

Mong là những người trẻ tuổi như mình sẽ luôn giữ được tình yêu với Hà Nội như thế hệ đi trước và sẽ làm nhiều điều thiết thực hơn. Đơn giản như việc hành xử có ý thức, văn minh hay lớn hơn là góp sức xây dựng những công trình thực sự có ý nghĩa đối với Hà Nội.

Điều khiến mình mừng nhất là dịp này Hà Nội đã khởi công xây dựng tuyến tàu điện đô thị đầu tiên ở Việt Nam. Mỗi lần đi tàu điện ở bên Nhật mình đều mong Hà Nội sẽ có những chuyến tàu tiện lợi như thế. Hi vọng nó sẽ sớm được hoàn thiện và đưa và sử dụng để giúp người Hà Nội đi lại đỡ vất vả hơn.

Mình mong Hà Nội sau này sẽ là thủ đô giàu đẹp xứng với tầm vóc của nó. Và một văn hoá Hà Nội đích thực sẽ được người ta vun đắp, gìn giữ và thậm chí dũng cảm xây dựng lại từ bây giờ.

2. Nguyễn Thu Hà- 23 tuổi- ĐH Công nghệ Hoa Đông- Thượng Hải- Trung Quốc

Những ngày này tôi thấy bồi hồi và rất nhớ Hà Nội. Hai năm không về, Hà Nội hẳn đổi thay rất nhiều.

Mô tả ảnh.
Nguyễn Thu Hà

Qua báo chí, mạng internet thấy diện mạo Hà Nội thật đẹp, thật rực rỡ, trong lòng rất tự hào và phấn khởi. Nhưng cũng những hình ảnh ấy khiến tôi càng nhớ về Hà Nội.

Tôi đặc biệt nhớ những món ăn chỉ Hà Nội mới có. Những ngày này nghe tin về đại lễ trong lòng nôn nao khó tả, chỉ ước được “bay” về với thủ đô… Chỉ ước được cùng cả nhà đi ra Hồ Gươm, ngắm pháo hoa, chào Hà Nội trong tuổi 1000…

Tôi mong Hà Nội ngày càng phát triển về mọi mặt kinh tế, văn hóa. Cái nghèo sẽ không còn hiện diện ở thủ đô nghìn tuổiI, ý thức người dân cũng từng bước nâng cao. Hà Nội tương lai gần không còn ngập lụt, tắc đường, quảng cáo lem nhem nữa.

Và tương lai xa, Hà Nội sẽ trở thành một thủ đô giàu mạnh, một thành phố vừa hiện đại, vừa bảo tồn được những nét văn hóa đặc sắc không dễ gì bị “hòa tan”.
3. Phan Doãn Phúc, 20 tuổi, Đại học Ngoại ngữ Tokyo, Nhật Bản

Những ngày nà,y tôi thường hay nghe các ca khúc viết về Hà Nội. Mỗi bài hát lại gợi nhắc tôi về thủ đô thân yêu. Tôi có thể mường tượng ra những con phố quen thuộc: Phan Đình Phùng- Hoàng Diệu- Hoàng Hoa Thám rợp bóng cây…

Mô tả ảnh.
Doãn Phúc

Nhật Bản mùa này đang mưa, khiến tôi nhớ nao lòng những cơn mưa Hà Nội. Nhớ nao lòng những chiều ra bãi sông Hồng cưỡi ngựa với người ấy. Những kỉ niệm đẹp vừa gần, lại vừa xa xôi vời vợi.

Ngày nào tôi cũng phải cập nhật thông tin về hoạt động của Đại Lễ qua mạng. Là một công dân thủ đô, tôi thực sự rất tự hào trước dấu mốc 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Mong rằng người Hà Nội ngày càng ứng xử và nâng cao ý thức để xứng đáng hơn với bề dày nền văn hiến 1000 năm ấy.

Giao thông Hà Nội thực sự là một nỗi ám ảnh lớn với tôi. Vì thế, hi vọng sau sáu năm nữa khi hoàn thành chương trình học, giao thông Hà Nội đã được cải thiện hoàn toàn.

Nếu được tưởng tượng về Hà Nội một ngàn năm nữa, với tôi đó sẽ là một thành phố vì hòa bình, một Hà Nội hiện đại nhưng vẫn giữ được những nét cổ kính và bản sắc.

  • Quỳnh Anh (Ghi)

Theo vietnamnet.vn

Giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường

“Riêng đối với khối giáo dục CĐ, ĐH, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa…”, TS, Nhà giáo ưu tú Đặng Huỳnh Mai viết.


Vấn đề mối quan hệ cũng như sự tác động giữa giáo dục và nền kinh tế thị trường đã được rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đề cập trong nhiều diễn đàn và hội thảo khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ tiếp cận vấn đề trên quan điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của kinh tế thị trường đối với giáo dục được xem xét trên cơ sở của mối quan hệ giữa giáo dục với thị trường hàng hóa (mang hình thái vật chất); thị trường nhân tài; thị trường dịch vụ lao động và cả mối quan hệ giữa cơ chế giáo dục với cơ cấu kinh tế…

Có thể hiểu, thị trường là nơi hoặc lĩnh vực trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành mua bán. Còn thị trường giáo dục – nếu thừa nhận sự tồn tại của nó – thì phải được xét trên các lĩnh vực như: sự nghiệp giáo dục, nguồn lực giáo dục, sản phẩm của giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như cái gì là nơi có thể trao đổi, mua bán.

Những lý luận liên quan

Về sự nghiệp giáo dục: Về việc giáo dục liệu có phải là sản xuất công nghiệp hay không, thì cho đến nay, giới kinh tế học giáo dục đưa ra những ý kiến, góc nhìn và nhận xét khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.

- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt

Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là “ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân”; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.

Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.

Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào, thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?

Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã hội, và vì vậy, lẽ đương nhiên, giáo dục là một ngành sản xuất.

Tuy nhiên, nếu giáo dục là một ngành sản xuất, thì nó cũng phải chịu sự chế ước và chi phối của quy luật kinh tế thị trường. Nhưng tự bản thân giáo dục cũng có quy luật riêng, cố hữu của nó, và tất yếu vấn đề chiến lược xây dựng và phát triển giáo dục của một đất nước lại phải tuân theo quy luật của bản thân ngành giáo dục và quy luật xây dựng và phát triển của đất nước đó.

- Quan niệm giáo dục là yếu tố sản xuất

Quan niệm này cho rằng, giáo dục là yếu tố sản xuất quan trọng nhất của sản xuất xã hội. Bởi vì, nhân tài và người lao động chính là sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, sản phẩm từ sản xuất giáo dục là sức lao động có tri thức và kỹ năng nhất định, có “giá trị” và “giá trị sử dụng”.

- Quan niệm giáo dục không là sản xuất

Nhiều học giả trên thế giới không hoàn toàn đồng ý với quan niệm giáo dục “là một ngành sản xuất”, khi cho rằng, cần phải coi quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hóa, khoa học – kỹ thuật. Nếu xét từ góc độ này, giáo dục cũng có tính sản xuất nhất định. Mặc dù bản thân giáo dục không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng đã “sản xuất” ra những con người làm ra của cải vật chất.

Về sản phẩm giáo dục:

- Sản phẩm và hoạt động của dịch vụ giáo dục là hàng hóa. Sản phẩm và dịch vụ giáo dục được tiến hành trao đổi, bao gồm sản phẩm dịch vụ giáo dục và sản phẩm của các ngành khác. Người ta cho rằng, nếu không có kiểu trao đổi này, quan điểm giáo dục là ngành sản xuất sẽ không còn tồn tại. Vì vậy, sản phẩm dịch vụ giáo dục phải là hàng hóa và cần phải được thị trường hóa. Bởi vì:

+ Những thứ mà dịch vụ giáo dục cung cấp, mặc dù giá trị sử dụng là đặc biệt, nhưng xét về bản chất, nó cũng như các hàng hóa khác. Vì vậy, dịch vụ do giáo dục cung cấp có thể nói chính là hàng hóa.

+ Các kiểu dịch vụ hoặc bản thân hoạt động lao động có giá trị, khi trao đổi trên thị trường, về bản chất, không có gì khác về mặt hình thức so với các hàng hóa khác.

+ Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo – hay nói cách khác – năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi tham gia thị trường.

- Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục – đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa… Nếu quá nhấn mạnh vào vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng trong giáo dục.

Về thị trường giáo dục:

- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất

Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.

- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là vấn đề hạt nhân, là khâu then chốt của việc nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của nó đối với thị trường. Nó được thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau đây:

+ Trong điều kiện sản xuất hiện đại hóa, nhân tài và sức lao động vừa là đối tượng để giáo dục đào tạo, vừa là người lao động trong các ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất hàng hóa; là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về nhân tài chuyên ngành và các loại lực lượng lao động, vừa thể hiện bằng hình thức điều động, phân công của nhà nước, vừa có sự điều tiết bằng quy luật cung – cầu của thị trường.

+ Mối quan hệ nội tại giữa giáo dục với thị trường nhân tài và thị trường lực lượng lao động lại thể hiện ở vai trò của đào tạo nhân tài chuyên ngành và huấn luyện lực lượng lao động chuyên môn sâu. Giáo dục, xét về góc độ thực tế, phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân tài và thị trường lao động chuyên ngành. Nếu lực lượng này đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thời đại, thì chắc chắn sẽ đứng vững trong thị trường cạnh tranh nhân tài và lực lượng lao động.

+ Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là nguồn giá trị nhiều hơn giá trị vốn có của nó như C. Mác từng nói, đại ý là: hàng hóa sức lao động sở dĩ là sản phẩm có sự khác biệt giữa giá trị của bản thân nó và giá trị do nó tạo ra là vì nó có đặc tính riêng biệt, là lực lượng sáng tạo giá trị, là nguồn gốc của giá trị.

- Thị trường khoa học – kỹ thuật

Thị trường khoa học – kỹ thuật gắn liền với 2 yếu tố: thiết bị và công nghệ ứng dụng; con người sử dụng thiết bị và công nghệ đó. ở đây, thiết bị và công nghệ là hàng hóa thì quá rõ ràng, còn người sử dụng thì lại rơi vào thị trường nhân tài và lực lượng lao động như đã đề cập ở trên.

- Thị trường dịch vụ lao động (dịch vụ) C. Mác cũng từng cho rằng: Dịch vụ trường học (chỉ cần anh ta là thứ mà sản xuất cần hoặc có ích); dịch vụ y tế (chỉ cần anh ta bảo đảm được sức khỏe, duy trì tất cả nguồn giá trị tức là bản thân sức lao động), mua dịch vụ này chính là mua hàng hóa có thể bán được, cung cấp bản thân khả năng lao động để thay thế phục vụ bản thân. Dịch vụ này cần thêm phí sản xuất và phí tái sản xuất khả năng lao động. Nói chung, ý nghĩa dịch vụ ở đây chẳng qua là dịch vụ cung cấp hoạt động, giữa giáo dục và thị trường dịch vụ lao động có mối liên hệ mang tính tất nhiên.

Tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực giáo dục

Đối với giáo dục phổ thông, bao gồm:

- Đối với giáo dục mầm non chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện xã hội hóa, thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục mầm non vẫn là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường nhưng phần lớn là chưa ngang giá đối với giáo dục giỏi.

- Đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cấp học phổ cập, bắt buộc, vấn đề thị trường là không đáng kể. Phần thực hiện xã hội hóa cũng không đáng kể. Thị trường có thể tác động hoặc không tác động vào các lĩnh vực như:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục tiểu học là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa. Cho dù là công lập hay ngoài công lập thì vẫn phải thực hiện nhiệm vụ mà trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn là “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau”.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị thì phân công, điều động là hình thức chủ yếu; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường về mức thù lao ở một số trường tư thục hoặc một vài trường quốc tế.

- Đối với giáo dục trung học phổ thông chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện vai trò trách nhiệm của Nhà nước có kết hợp với xã hội hóa, thì thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục trung học phổ thông vẫn chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên ở đây có một phần của vai trò quốc tế.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị, được Nhà nước điều động và phân công và tiền lương theo mức quy định của Nhà nước. Đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi, thương lượng, nhưng phần lớn là sức lao động bỏ ra chưa ngang giá đối với giáo viên giỏi ở một số trường trong nước; có thể ngang giá ở một vài trường quốc tế. Đối với nhiệm vụ quốc tế: thuộc cơ chế thị trường (trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho ở một vài trường học).

- Đối với giáo dục cao đẳng và đại học

+ Về sự nghiệp giáo dục, đây là bậc học đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Cho nên, sự nghiệp giáo dục vẫn phải là đào tạo những con người phục vụ cho đất nước, nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

+ Về hoạt động dịch vụ, người ta cho rằng, ngoài đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chất lượng cao thì chất lượng dịch vụ ở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng. Nhìn vào chất lượng dịch vụ giáo dục ở một trường đại học, có thể đánh giá được năng lực quản lý của nhà trường đó. Vì vậy, lĩnh vực này có mang ý nghĩa hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động:

Đối với các trường công lập, Nhà nước cần quan tâm quản lý và đầu tư để có những con người tài ba phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lực lượng này do Nhà nước điều động, phân công và tiền lương cần được thực hiện như tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đối với các trường ngoài công lập, lực lượng giảng viên làm việc trong khối này có thể chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường nhân tài và lao động. Chính nơi này cũng sẽ góp phần tạo ra thị trường lao động để người lao động khẳng định tài năng và hiệu quả làm việc.

Đối với nhiệm vụ quốc tế, thuộc cơ chế thị trường, trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho.

Với thị trường khoa học – kỹ thuật, đây là lĩnh vực hoàn toàn có thể thị trường hóa, không những trong phạm vi của một nhà trường, một đất nước, mà có thể triển khai ở phạm vi quốc tế.

Tóm lại, xét từ góc độ vĩ mô, giáo dục Việt Nam là một hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó có chú trọng đến việc đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Với lĩnh vực giáo dục phổ thông, do chức năng và nhiệm vụ giáo dục là hết sức đặc trưng, nên thành quả của giáo dục là đa phương diện; trong đó, thành quả của giáo dục đáp ứng nhiệm vụ chính trị là quan trọng nhất và mang tính chất quyết định. Cơ chế thị trường chỉ có thể tác động vào lĩnh vực dịch vụ và hoạt động dịch vụ giáo dục là chính. Riêng đối với khối giáo dục cao đẳng và đại học, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa, còn yếu tố tài năng và lực lượng lao động thì phần lớn phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước ta; phần còn lại có thể tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

ĐH Chicago “hấp dẫn” GS Ngô Bảo Châu

Theo kết quả tổ chức xếp hạng các trường ĐH danh tiếng thế giới QS vừa công bố, trường ĐH Chicago đứng thứ 4 trong các trường ĐH ở Mỹ. Trong ngành toán học, đặc biệt về lý thuyết đại số mà GS Ngô Bảo Châu đang theo đuổi thì ĐH Chicago được đánh giá đứng hàng đầu thế giới.
Trường ĐH hàng đầu thế giới

Trường Đại học Chicago là một trường đại học tư nằm ở khu vực phố Hyde Park của Chicago, Illinois, được thành lập bởi Hội Giáo dục Baptist Mỹ và nhà tỷ phú dầu mỏ John D. Rockefeller năm 1890.

Trường Đại học Chicago tổ chức lớp học đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1892 và là một trong những trường đại học đầu tiên của Mỹ kết hợp giữa cao đẳng nghệ thuật tự do đa ngành Mỹ và đại học nghiên cứu của Đức.

Trường Đại học Chicago nổi tiếng có các phong trào học thuật gây ảnh hưởng như trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, trường phái phê bình văn học Chicago và phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý.

Trường Đại học Chicago cũng là nơi thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo tự lực đầu tiên của thế giới và cũng có báo chí đại học lớn nhất Hoa Kỳ.

Cơ sở chính của Đại học Chicago rộng đến 211 mẫu Anh trong khu phố Chicago của Hyde Park và Woodlawn, cách 7 dặm (11 km) về phía nam trung tâm thành phố Chicago. Phần phía bắc và phía nam của khuôn viên được ngăn cách bởi một công viên lớn Plaisance Midway được xây dựng vào năm 1893 .

Các tòa nhà đầu tiên của Đại học Chicago nằm trong khuôn viên trường tạo nên những khu vực sân rộng phía trong. Các tòa nhà được thiết kế theo kiến trúc Gothic, giống với khuôn mẫu của trường Đại học Oxford. Sau những năm 1940, kiểu kiến trúc Gothic trong khuôn viên trường đã được thay thay thế dần bằng phong cách hiện đại.

Các cơ sở học thuật của Đại học Chicago bao gồm các trường cao đẳng, 4 cơ sở nghiên cứu sau đại học, 6 trường chuyên nghiệp, hệ thống trường trung học…

Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã dành 12 năm để dạy luật hiến pháp tại Trường Luật của ĐH Chicago, 4 năm đầu (1992-1996) ông là giảng viên, 8 năm sau (1996-2004) là giảng viên trưởng.

Ở ĐH Chicago, năm học được chia thành bốn học kỳ: học kỳ mùa hè (tháng sáu đến tháng tám), học kỳ mùa thu (tháng chín đến tháng mười hai), học kỳ mùa đông (tháng một đến tháng ba) và học kỳ mùa xuân (tháng tư đến tháng sáu). Năm học thường bắt đầu vào cuối tháng chín và kết thúc vào giữa tháng sáu. Học kỳ mùa xuân năm 2009, ĐH Chicago có 14.000 học sinh, sinh viên ở các chương trình. Sinh viên quốc tế chiếm khoảng 18% tổng số học sinh, sinh viên, ít nhất 23% học sinh dân tộc thiểu số trong nước đã được học tập tại đây, và 45% là nữ. Những sinh viên học tại ĐH Chicago được ở trong một khu ký túc xá. Hiện có 36 nhà, với trung bình 70 sinh viên trong mỗi nhà. Khoảng 60% sinh viên đại học sống trong trong các ký túc xá trong khuôn viên trường.

Hệ thống thư viện của ĐH Chicago bao gồm 6 thư viện thành phần, có chứa tổng cộng 8,5 triệu cuốn sách về khoa học sinh học, y tế, vật lý, triết học, lịch sử y học, và công nghệ… Thư viện này đứng thứ 12 trong số các thư viện ở Hoa Kỳ. Thư viện lớn nhất của trường là thư viện Regenstein. Việc mở rộng của thư viện dự kiến hoàn thành vào năm 2010.

Khoa học cơ bản được ưu tiên

Theo số liệu đã công bố, năm 2006, ĐHChicago đã dành hơn 305 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. ĐH Chicago cũng giám sát hoạt động của 12 viện nghiên cứu và 113 trung tâm nghiên cứu trong trường. Trong số này có Viện phương Đông (bao gồm một bảo tàng và trung tâm nghiên cứu khu vực phía Đông) do ĐH Chicago sở hữu và điều hành. Ngoài ra trường cũng sở hữu một số Trung tâm nguồn lực quốc gia.


Quang cảnh trường ĐH Chicago

Đã có 85 người đoạt giải Nobel đã từng có mối quan hệ trực tiếp với Đại học Chicago, 17 người trong số họ đã nghiên cứu hoặc trực tiếp giảng dạy tại ĐH Chicago khi họ nhận được giải Nobel.

Khoa toán cùng với ĐH Chicago bắt đầu đi vào hoạt động từ 10/1892. Vị trưởng khoa đầu tiên là ông Eliakim hastings Moore – ông cũng là giáo sư liên kết với ĐH Northwestern. Ông Moore đã ngay lập tức bổ nhiệm Oskar Bolza và Heinrich Maschke vào làm việc cùng mình và ba người họ đã trở thành những hạt nhân cơ bản của khoa toán trong suốt thời kỳ 1892- 1908.

Suốt giai đoạn từ 1892 đến 1908 ĐH Chicago không phải là nơi hấp dẫn đối với việc học cao hơn về toán học.

Từ năm 1892 đến năm 1910, chỉ có 39 sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ toán học tại Đại học Chicago. Từ 1910 đến 1927 việc đào tạo toán học được phát triển mạnh mẽ hơn, trong giai đoạn này có 115 bằng tiến sỹ toán học được cấp. Cuối thời kỳ này, ĐH Chicago trở thành nơi đào tạo chủ yếu những tiến sỹ toán học ở Mỹ.

Một trong những dự án đầu tiên được tiến hành bởi khoa toán là hợp tác với tổ chức World Fair tổ chức đại hội quốc tế các nhà toán học tại Chicago vào năm 1893. Thành công của dự án này đã cho thấy rằng ĐH Chicago và khoa toán có đủ năng lực trở thành cơ sở tổ chức thường xuyên của đại hội các nhà toán học thế giới. Việc công bố thông tin về đại hội được diễn ra dưới sự giúp đỡ của Hiệp hội Toán học New York, và ngay sau đó, với sự cổ vũ mạnh mẽ của Moore, hiệp hội này sau này đã đổi tên thành Hiệp hội Toán học Hoa Kỳ.

Từ 1/9/2010, GS Ngô Bảo Châu chính thức giảng dạy tại khoa toán ĐH Chicago. GS Ngô Bảo Châu từng cho biết anh quyết định giảng dạy tại ĐH Chicago cũng là vì có cơ hội được làm việc chặt chẽ hơn nữa với các đồng nghiệp tại Trường ĐH Chicago. Những đồng nghiệp mà GS Ngô Bảo Châu thường nhắc tới là các GS danh tiếng như Alexander Beilinson, Vladimir Drinfeld, Kazuya Kato…

Ông Robert Zimmer, giáo sư toán học và Chủ tịch ĐH Chicago nói: “Chúng tôi chúc mừng Giáo sư Ngô về Giải thưởng Fields mà ông hoàn toàn xứng đáng. Chúng tôi mong tới lúc đón ông về làm nhân viên mới của khoa toán, khoa có lịch sử lâu dài và uy tín.”

Còn Trưởng khoa Toán, giáo sư Peter Constantin bày tỏ, ông Ngô Bảo Châu đã chứng tỏ được khả năng toán học lớn khi trong năm ngoái ông chứng minh thành công một bổ đề toán mà 30 năm không nhà toán học nào có thể chứng minh được. Giáo sư Constantin thì nói: “Đó là vấn đề toán học thuần túy nhưng nó có liên quan tới cuộc sống bao gồm cả lĩnh vực vật lý năng lượng cao, khoa học máy tính và mật mã.”

Theo thông tin từ Đại học Chicagocác giảng viên đã và đang giảng dạy tại trường đoạt 7 giải Fields trong tổng số 48 giải được trao từ trước tới nay.

GS. Ngô Bảo Châu sẽ lập hat-trick ‘Nobel Toán học’?

Có lẽ ít người biết rằng, ngoài giải thưởng Fields danh giá, được ví với giải “Nobel Toán học”, còn 2 giải thưởng khác trong lĩnh vực này cũng danh giá không kém: Đó là giải thưởng Wolf và giải thưởng Abel.

Do không có giải Nobel cho các nhà Toán học nên bộ 3 giải Wolf Prize, Abel Prize và Fields Medal đều được xem là giải “Nobel Toán học”.

baochau.jpg
GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Bích Ngọc

GS. Ngô Bảo Châu của Việt Nam sau khi chinh phục giải thưởng Fields Medal, hoàn toàn có thể tiếp tục đạt được 2 giải thưởng còn lại.

Chúng tôi giới thiệu vài nét về giải thưởng Wolf và giải thưởng Abel để độc giả tham khảo. Bài viết đăng tải trên báo điện tử VTC:

1. Giải Wolf cho Toán học

Wolf Prize là một bộ giải thưởng được trao bởi Quỹ Wolf (Wolf Foundation), bắt đầu từ năm 1978 cho các nhà khoa học và các nghệ sĩ. Giải Wolf hầu hết được trao hàng năm, hoặc đôi khi 2 năm một lần, dành cho 6 hạng mục: Nông nghiệp, Hóa học, Toán học, Y học, Vật lý và Nghệ thuật. Giải Wolf cho Nghệ thuật được xoay vòng giữa 4 lĩnh vực: kiến trúc, âm nhạc, hội họa và điêu khắc. Người được trao giải Wolf sẽ nhận được bằng chứng nhận và khoản tiền lên đến 100.000 USD.

Quỹ Wolf được thành lập từ năm 1976, với tổng ngân quỹ ban đầu là 10 triệu USD được tài trợ bởi gia đình Wolf. Người sáng lập quỹ này là Tiến sĩ Ricardo Wolf và vợ ông, bà Francisca.

Ricardo Wolf (1887-1981) có tên đầy đủ là Ricardo Subirana y Lobo Wolf. Ricardo Wolf sở hữu 3 quốc tịch Đức, Israel và Cuba. Ông sinh tại thành phố Hanover, Đức trong gia đình có 14 người con. Bố ông là Moritz Wolf, một lãnh tụ của cộng đồng Do Thái di cư sang Đức.

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Ricardo Wolf chuyển tới sinh sống ở Cuba, nơi trở thành quê hương thứ 2 của ông. Wolf là một nhà đầu tư và một nhà ngoại giao có tiếng. Năm 1924, ông kết hôn với nhà vô địch tennis những năm 1920 Francisca Subirana. Wolf là người ủng hộ Fidel Castro trong cuộc Cách mạng Cuba và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Cuba tại Israel từ năm 1961.

Các giải Wolf đều là những giải thưởng danh giá hàng đầu trong mỗi lĩnh vực xét giải. Giải Wolf trong Vật lý và Hóa học đều chỉ kém danh tiếng so với giải Nobel. Trong Y học, đó là giải thưởng uy tín thứ 3, sau giải Nobel và giải Lasker. Trong Nông nghiệp, nó được xem là giải “Nobel Nông nghiệp”.

Trong khi đó, ở lĩnh vực Toán học, giải Wolf và giải Fields đều được xem như giải “Nobel Toán học”, giải Fields uy tín hơn nhưng giải Wolf lại giống với giải Nobel hơn về mặt thể thức: Được trao hàng năm và không giới hạn tuổi của người chiến thắng.

Năm 2002, khi giải Abel ra đời thì giải Wolf, giải Fields và giải Abel được xem là bộ ba “Nobel Toán học”, trong đó mỗi giải có một ưu thế riêng trội hơn 2 giải còn lại.

Những nhà Toán học đầu tiên được trao giải Wolf là Israel Gelfand (Liên Xô) và Carl L. Siegel (Đức) vào năm 1978. Mỗi năm, Quỹ Wolf thường trao giải cho 2 người ở lĩnh vực Toán học (riêng năm 1994/5 chỉ có một mình Jürgen Moser được trao giải, năm 2008 có 3 người: Pierre Deligne, Phillip A. Griffiths và David B. Mumford). Trong một số năm, Quỹ Wolf không trao giải cho Toán học, gần đây là các năm 1998, 2004, 2009.

Dennis P. Sullivan (trái) và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.
Dennis P. Sullivan (trái) và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.

Đáng chú ý là có tới 12 nhà Toán học đoạt giải Wolf cũng từng nhận Huy chương Fields, giải thưởng mà GS Ngô Bảo Châu vừa nhận được tại Ấn Độ. 12 người đó là: Grigory Margulis (Nga), Sergei Novikov (Nga), Stephen Smale (Mỹ), Pierre Deligne (Bỉ), Jean-Pierre Serre (Pháp), Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ), Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Atle Selberg (Na Uy), Lars Ahlfors (Phần Lan), Shing-Tung Yau (Mỹ, Trung Quốc), David Mumford (Anh).

2. Giải Abel

Giải Abel (Abel Prize) là giải thưởng thường niên được nhà vua Na Uy trao cho một hoặc một vài nhà Toán học. Tên gọi của giải thưởng này được đặt theo tên của nhà Toán học Na Uy Niels Henrik Abel (1802-1829) – một thiên tài bạc mệnh, người qua đời ở tuổi 27 vì bệnh lao.

Giải Abel được công bố vào năm 2001 và bắt đầu được trao từ năm 2003 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thiên tài Abel. Mục đích của giải Abel khi ra đời là để khỏa lấp sự thiếu vắng của giải Nobel trong Toán học. Dù giải Fields trước đó đã được xem là tương đương với “Nobel Toán học”, nhưng chỉ được trao 4 năm một lần (giải Nobel được trao hàng năm) và với số tiền thưởng chỉ bằng 1% so với giải Nobel. Từ khi ra đời, giải Abel cũng được xem như giải “Nobel cho các nhà Toán học” (Mathematician’s Nobel).

Abel Prize cùng với Wolf Prize và Fields Medal hợp thành bộ ba giải thưởng danh giá nhất mà các nhà Toán học có thể đạt được. Giống như giải Nobel và giải Wolf, giải Abel không giới hạn độ tuổi của người đoạt giải. Ngoài ra, khoản tiền thưởng cho người nhận giải Abel cũng rất lớn, lên đến 6 triệu krone (tiền Na Uy). Ở thời điểm trao giải Abel năm 2010, khoản tiền này tương đương 740.000 euro hay 992.000 USD, không kém nhiều so với giải Nobel (khoảng 1,4 triệu USD).

Mục đích của giải Abel là để phổ biến Toán học và làm cho nhiều người yêu Toán học, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Theo điều lệ, hàng năm Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy công bố chủ nhân giải Abel sau cuộc tuyển chọn do một hội đồng gồm 5 nhà Toán học quốc tế tiến hành. Người đứng đầu hội đồng từ năm 2006 là Kristian Seip – nhà Toán học Na Uy và là cựu Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy. Ngân quỹ ban đầu để trao giải do chính phủ Na Uy cấp vào năm 2001 là 200 triệu krone (khoảng 23 triệu USD).

Lẽ ra, giải Abel phải được trao trước đó cả trăm năm. Năm 1897, nhà Toán học Na Uy Sophus Lie (1842-1899) là người đầu tiên đề xướng việc thành lập một giải thưởng tương đương với giải Nobel cho các nhà Toán học. Ở thời điểm đó, Na Uy và Thụy Điển vẫn còn nằm trong một liên bang và nhà vua Oscar II đã đồng ý tài trợ cho giải thưởng này. Năm 1902, ý tưởng thành lập giải thưởng mang tên Abel đã được đưa ra nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Thậm chí, các nhà Toán học Ludwig Sylow và Carl Størmer đã phác thảo những quy chế và luật lệ cho giải. Tuy nhiên sự tan rã của liên bang Thụy Điển – Na Uy năm 1905 đã kết thúc cố gắng đầu tiên để thành lập giải thưởng Abel.

Phải mất gần 100 năm sau, giải thưởng Abel mới chính thức ra đời vào tháng 5/2010. Tới tháng 8/2001, chính phủ Na Uy tuyên bố giải thưởng Abel đầu tiên sẽ được trao vào năm 2002 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh Abel. Tới tháng 4/2003, nhà Toán học Pháp Jean-Pierre Serre được công bố là người đầu tiên nhận giải Abel.

Tính đến nay, sau 8 năm giải Abel được vận hành, đã có 10 nhà Toán học được trao giải, trong đó có 5 nhà Toán học Mỹ và 3 người Pháp.

Ngoài ra, Na Uy còn giới thiệu bộ sách giới thiệu về các nhà Toán học đoạt giải Abel và công trình của họ, được phát hành 5 năm một lần. Cuốn sách đầu tiên giới thiệu các nhà Toán học đoạt giải trong 5 năm đầu (2003-2007) xuất bản vào năm 2007.

Mô tả ảnh.
2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”

Trong số 10 nhà Toán học đoạt giải Abel, đã có 3 người trước đó từng đoạt Huy chương Fields (Jean-Pierre Serre – 2003, Michael F. Atiyah – 2004, John G. Thompson – 2008) và 7 người từng nhận giải Wolf (Jean-Pierre Serre, Peter D. Lax, Lennart Carleson, John G. Thompson, Jacques Tits, Mikhail Gromov, John Tate).

Như vậy, cho đến hiện tại chỉ có 2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”.

  • Theo VTC

Ngô Bảo Châu được vinh danh ‘Công dân thủ đô ưu tú’

Chiều 4/9, nhận danh hiệu Công dân thủ đô ưu tú năm 2010, giáo sư Ngô Bảo Châu chia sẻ, là người Hà Nội, dù đi nơi đâu, trái tim của ông cũng luôn hướng về thủ đô.


Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo trao tặng danh hiệu cho giáo sư Ngô Bảo Châu. Ảnh: Hà Nội Mới.

Theo Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, sự kiện giáo sư Ngô Bảo Châu được giành giải thưởng Fields cùng thời điểm Hoàng thành Thăng Long được Tổ chức UNESCO công nhận Di sản văn hóa Thế giới, đặc biệt có ý nghĩa khi thủ đô và cả nước đang chuẩn bị Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.

Tại buổi trao tặng, giáo sư Ngô Bảo Châu bày tỏ, ông rất vinh dự được nhận danh hiệu Công dân ưu tú của thủ đô. Là người Hà Nội, dù đi nơi đâu, trái tim của ông cũng luôn hướng về thủ đô, với mong muốn Hà Nội ngày càng đẹp, xanh hơn và giàu mạnh hơn.

Năm 2010, lần đầu tiên Hà Nội vinh danh 11 Công dân thủ đô ưu tú. Trong danh sách năm nay còn có giáo sư Vũ Khiêu, giáo sư Phan Huy Lê, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, chị Trần Mai Anh (mẹ nuôi bé Thiện Nhân)…

GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội, là con duy nhất của GS TSKH Ngô Huy Cẩn, chuyên gia hàng đầu về cơ học và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền. Anh từng học tại trường thực nghiệm Giảng Võ, chuyên toán của THCS Trưng Vương trước khi vào khối chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội).

Năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam. Năm 2007, sau khi chứng minh được “Bổ đề cơ bản”, một giả thuyết then chốt của Chương trình Langlands, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach của Đức, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.

Ngày 19/8/2010, giáo sư Ngô Bảo Châu là một trong 4 người được trao giải thưởng Fields – giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới và trở thành nhà Toán học đầu tiên của Việt Nam giảnh được giải thưởng này.

Theo:vnexpress

GS Ngô Bảo Châu không lấy tên mình đặt tên quỹ khuyến học

Chiều ngày 3/9, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi giới thiệu sự ra đời quỹ khuyến học mang tên: Vì tinh thần hiếu học – Theo sáng kiến của GS Ngô Bảo Châu. Hiện tại, chưa có thông tin cuối cùng về số tiền của quỹ, ngoại trừ số tiền được giải thưởng Fields của GS được đóng góp hết cho quỹ là 15.000 đô la Canada. Những người nằm trong ban sáng lập quỹ chưa được thông qua chính thức.


GS Ngô Bảo Châu

Điều đặc biệt ở quỹ học bổng “Vì tinh thần hiếu học” là không định làm cái gì to lớn trước, mà làm thật tốt những việc nhỏ, trao đúng tiền cho những người đang thực sự cần đến nó cũng như các học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, quỹ không tài trợ cho các bạn sinh viên ra nước ngoài học tập được vì hiện tại chưa đủ khả năng tài chính.

GS Ngô Huy Cẩn, bố của GS Ngô Bảo Châu là Giám đốc điều hành quỹ, GS Hà Huy Khoái là Chủ tịch Hội đồng khoa học của quỹ. GS Bành Tiến Long, Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước là đại diện bảo trợ cho quỹ.

GS Ngô Bảo Châu cho biết: “Chúng tôi làm quỹ này vì đây là một thời điểm rất hiếm hoi, khi huy chương Fields được trao cho một công dân Việt Nam và rộng hơn là một công dân của một nước đang phát triển. Vì vậy, nó có thể là sự cổ vũ rất lớn cho thế hệ trẻ.

Quỹ tuyệt đối không có mục đích quảng bá tên tuổi cho người thành lập cũng như các tổ chức và cá nhân tham gia ủng hộ, mà chỉ có mục đích duy nhất là khuyến học và vận động ủng hộ cho công tác khuyến học. Những người cộng tác với quỹ hoàn toàn làm việc trên cơ sở thiện nguyện. Hoạt động của quỹ được đặt trên cơ sở hoàn toàn công khai, minh bạch, có kiểm toán độc lập hàng năm”.

Nếu như các thủ tục thành lập được nhanh chóng thì dự kiến, đến tháng 12/2010, quỹ sẽ bắt đầu trao học bổng đầu tiên cho các bạn học sinh, sinh viên.

Bước đầu, quỹ sẽ tài trợ cho hai đối tượng: Học sinh thi đại học điểm cao, các sinh viên có kết quả xuất sắc nhưng hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đối với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” và tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn” được coi trọng như nhau.

Đối tượng thứ hai là sinh viên, nghiên cứu sinh trong nước. Với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” được ưu tiên hơn tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn”. GS Châu có nhấn mạnh thêm là học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách cũng thuộc diện được xét nhận tài trợ tài chính.

Người nhận học bổng có trách nhiệm báo cáo kết quả học tập từng kỳ học cho quỹ.

Ngoài việc tặng học bổng, quỹ sẽ có trách nhiệm tìm một giảng viên đại học làm người đỡ đầu cho sinh viên được nhận học bổng. GS Ngô Bảo Châu cho biết, đây là một nét khác biệt nhiều so với những quỹ khuyến học khác và cũng giống như ở một số nước phát triển.

Người đỡ đầu có vai trò tư vấn cho sinh viên học hành một cách tốt nhất, gợi mở hướng đi trong học tập của sinh viên. Sự hướng dẫn và khuyến khích của người đỡ đầu cũng quan trọng không kém phần vật chất. Quỹ sẽ có hỗ trợ tài chính cho người đỡ đầu. Trong khả năng của mình, quỹ sẽ tài trợ kinh phí và hỗ trợ một số hoạt động nghiên cứu khoa học của người đỡ đầu.

Người đỡ đầu, có trách nhiệm hướng dẫn định hướng cho sinh viên, xác nhận báo cáo kết quả học tập của sinh viên và đưa ra nhận xét làm cơ sở cho việc tiếp tục cấp học bổng cho năm tiếp theo.

Quỹ cũng chấp nhận đóng góp hiện vật làm phần thưởng cuối năm cho các sinh viên nhận tài trợ của quỹ và có kết quả học tập xuất sắc.

Về đối tượng nhận bảo trợ: Hội đồng khoa học của quỹ sẽ hoạt động độc lập, có thẩm quyền duy nhất và tuyệt đối trong việc lựa chọn đối tượng được trao học bổng cũng như lựa chọn người đỡ đầu cho sinh viên nhận học bổng.

Quỹ bao gồm Hội đồng quản lý quỹ, Hội đồng khoa học, Giám đốc điều hành quỹ và các bộ phận chuyên môn.

Giám đốc điều hành có trách nhiệm điều hành chung các hoạt động thường xuyên của quỹ. Giám đốc điều hành do Chủ tịch quỹ đề xuất và được Hội đồng quản lý quỹ chấp nhận.

Danh sách Hội đồng khoa học do Chủ tịch hội đồng khoa học và Giám đốc điều hành đề xuất và được Hội đồng quản trị chấp nhận.

Thành viên Hội đồng khoa học không nhận thù lao từ quỹ, nhưng được cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học, trong khả năng tài chính của quỹ.

Hội đồng quản lý quỹ bao gồm thành viên đại diện cho các nhà tài trợ chủ chốt và thành viên cho Chủ tịch quỹ quy định.

Hội đồng quản lý quỹ quy định mức học bổng phát cho sinh viên, mức kinh phí hỗ trợ hoạt động khoa học cho những người đỡ đầu sinh viên nhận học bổng.

Hội đồng quản lý quỹ đưa ra kế hoạch vận động tài trợ cho quỹ.

Về hoạt động thường niên: Hàng năm sẽ có ba sự kiện chính:

Thông báo rộng rãi về quy chế cấp học bổng của quỹ, thời hạn nộp và xét hồ sơ.

Công bố kết quả tuyển chọn.

Tổ chức một buổi liên hoan chung vào cuối mỗi năm học, với sự tham gia của các nhà tài trợ, các thành viên hội đồng khoa học, các sinh viên nhận học bổng và người đỡ đầu. Đây là dịp để quỹ khen thưởng các sinh viên có kết quả xuất sắc và bày tỏ sự trân trọng đối với các nhà tài trợ, thành viên hội đồng khoa học và người nhận đỡ đầu cho sinh viên. Đây cũng là dịp kêu gọi đóng góp vào quỹ cho năm theo.

Cập nhật theo:Tinmoi.vn

GS Ngô Bảo Châu: không phải chúng tôi đòi ưu tiên hơn

- GS Ngô Bảo Châu nói cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ.


Mô tả ảnh.
GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Hương Giang

Trong buổi gặp gỡ với báo chí sáng nay, cùng các đồng nghiệp làm toán ở Hội Toán học, Viện Toán học Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ câu chuyện về Viện Nghiên cứu cấp cao về toán đang trong lộ trình hình thành, sau khi Chính phủ ban hành chương trình trọng điểm quốc gia về toán học.

Mở đầu buổi gặp, GS Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học giải thích ngay, chương trình trọng điểm này do Bộ GD-ĐT chỉ đạo, không phải chương trình của Viện Toán học.

Thưa GS, viện nghiên cứu cấp cao về toán thuộc sự vận hành của Bộ GD-ĐT thì có thuận lợi và khó khăn gì?

GS Ngô Bảo Châu: Theo tôi hiểu, viện đó có quy chế đặc biệt, độc lập với Bộ GD – ĐT, biên chế sẽ rất ít. Bộ có lẽ chỉ quản về chính sách chung, còn điều hành do ban lãnh đạo của viện.

Khi nhìn vào nhà toán học, cứ tưởng nhà toán học ngồi trong phòng làm việc một mình, cái đó rất quan trọng.

Nhưng động lực chính cho phát triển khoa học, cũng như toán học nói riêng, chính là sự kết hợp với nhau, thậm chí toán học có thể kết hợp với vật lý, khoa học máy tính, sinh học, kinh tế. Một trong những tư tưởng then chốt là sự kết hợp các nhà khoa học có khả năng, điểm trội khác nhau.

Các ngành khác nhau đã đành, các nhà toán học làm việc ở Việt Nam, và các nhà khoa học trẻ đã được đào tạo ở nước ngoài.

Chúng tôi hy vọng, do cơ sở tốt của viện đang hy vọng được thành lập, lôi cuốn họ về Việt Nam làm việc 1 thời gian. Có thể không phải là vĩnh viễn, 6 tháng thôi, nhưng kết hợp, dần cuốn hút để nhiều nhà khoa học về Việt Nam làm việc hơn.

Cá nhân tôi thì công việc chính vẫn làm GS ở ĐH Chicago. Nhưng nếu viện thành lập, từ tháng 6 đến tháng 8, tôi sẽ ở Việt Nam, trực tiếp tham gia vào tổ chức khoa học, làm khoa học ở Việt Nam. Ban lãnh đạo gọn nhẹ, nhưng có trách nhiệm tuyển chọn hồ sơ theo lí lịch khoa học, đề tài nghiên cứu, khả năng hợp tác. Chúng tôi không khuyến khích những người làm việc một mình. Khi có việc quan trọng, tôi sẽ tham gia trực tiếp.

Mô tả ảnh.
GS Lê Tuấn Hoa

GS Lê Tuấn Hoa: Trong đề án ban đầu của ban soạn thảo, viện này có tên là viện đào tạo và nghiên cứu cấp cao về toán. Sau khi đóng góp ý kiến, chỉ còn tên viện nghiên cứu cao cấp về toán. Hiện nay, đang trong quyết định phê duyệt đến lúc có thành lập được hay không thì sẽ có tên khác.

Chương trình này trực thuộc Bộ GD-ĐT vì mục đích phục vụ nhà toán học trong nước, lực lượng trong nước ở các trường; sau này, việc điều phối sẽ dễ dàng. Tất nhiên vẫn có một lượng đáng kể các nhà toán học nước ngoài về làm việc ở viện. Nếu không có sự tương tác như vậy thì không thể có sự phát triển toán học được. Ngay cả các nhà vật lý, sinh học, nếu trong công trình nghiên cứu của họ có sử dụng nhiều về toán thì cũng có thể mời đến để làm việc.

GS Ngô Bảo Châu có thể về nước 3 tháng hoặc ít hơn, nhưng không hạn chế khả năng đóng góp vì những trao đổi qua email là thường xuyên. Việc thành lập càng muộn thì việc GS Ngô Bảo Châu thu xếp được thời gian càng khó. Các nhà toán học đang hăng hái.

Khi viện thành lập thì sẽ có sự khác biệt thế nào với Viện Toán học hiện nay? Trong tương lai, có sáp nhập hai viện hay không?

Mô tả ảnh.
GS Ngô Việt Trung.

GS Ngô Việt Trung: Viện này khó nói.

Viện Toán học là đơn vị hành chính sự nghiệp, tuân thủ quy định hiện hành, nhưng có bất cập rất lớn là không có quyền đào tạo. Ví dụ, chúng tôi phải liên kết với ĐH Thái Nguyên để đào tạo. Vì vậy, cần có viện nghiên cứu với cơ chế đặc biệt, trước mắt cho sự nghiệp đào tạo, cho toán học là các ngành khoa học khác.

Các nước khác cũng tồn tại hai viện song song, như Hàn Quốc. Cái cơ cấu của viện không phải nghiên cứu cố định. Tôi nghĩ, có hội đồng khoa học quyết định. Những người đến đấy học cán bộ trẻ vẫn là cán bộ cơ quan trẻ của mình, nâng cao trình độ chuyên môn.

GS Lê Tuấn Hoa: Hai viện nghiên cứu khác nhau về cơ chế và phương thức hoạt động.

Viện Toán hiện nay có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu làm việc thường xuyên, được trả lương từ ngân sách nhà nước. Còn viện Toán cao cấp sẽ không trả lương. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong thời gian đến làm việc tại viện sẽ không được nhận lương mà nhận một khoản tài trợ nghiên cứu.

Trong thời gian đó, họ không phải giảng dạy, chỉ tập trung cho việc nghiên cứu. Thay vì đi công tác hay nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà toán học có một nơi để nghiên cứu ngay trong nước. Đây là mô hình có thể áp dụng cho nhiều ngành khoa học. Nhưng ngành toán xin được mở đầu , thử nghiệm trước vì kinh phí dành cho toán cũng rẻ, ít tốn kém hơn.

GS.Ngô Bảo Châu: Mô hình này thích hợp với khoa học lí thuyết, không thích hợp với khoa học thực nghiệm. Vì cán bộ luân chuyển thực nghiệm mà máy móc, phải luân chuyển thì không thể thực hiện được.

Chúng tôi tiên phong làm toán học trước không phải là muốn giành cho toán học một tài trợ gì đó. Nếu ngành khác muốn tham gia, chúng tôi rất ủng hộ.

15 năm trước, GS.Hoàng Tuỵ đã xây dựng một đề án thành lập một trung tâm nghiên cứu toán học trong công nghiệp và quản lí, cũng là một một mô hình đặc biệt, rất công phu, cũng đã trình lên trên và được ủng hộ. Rất tiếc là không vượt qua được trở ngại về mặt nhận thức và cơ chế quản lí.

Bây giờ, chúng ta có cơ chế mới. Chúng tôi rất tin và kì vọng vào điều này.

Các nhà khoa học nước ngoài cũng về nước nhiều, nhưng về với tư cáchtham gia một vài công việc nào đó, song lại đi. Chứ trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động khoa học thì chưa có.

Chúng ta cần huy động những trí tuệ đó. Đây là mô hình để họ tham gia, như một tập thể khoa học, tập hợp, tổ chức. Một cơ sở tạo điều kiện cho họ tham gia tổ chức, phát triển toán học.

Ngoài phần đầu tư từ ngân sách Nhà nước, viện có các nguồn tài trợ từ bên ngoài không?


Mô tả ảnh.
GS Ngô Bảo Châu cùng các đồng nghiệp ở Viện Toán học và các trường ĐH. Ảnh: Bùi Tuấn

GS Lê Tuấn Hoa: Nếu chính phủ không có sự quan tâm đầu tư thì không thể thành lập được. Viện KIAS của Hàn Quốc có kinh phí hoạt động một năm là 18 triệu USD. Trong đó 15 triệu USD do chính phủ cấp, 3 triệu USD còn lại do viện tự vận động tài trợ từ cá nhân, doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, chưa thể kỳ vọng nhiều vào sự tài trợ của giới doanh nghiệp hay tài trợ từ xã hội. Ngân sách Nhà nước vẫn phải đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nghiên cứu khoa học cơ bản như toán học.

GS Ngô Bảo Châu: Viện nghiên cứu cao cấp Princeton có một khoản vốn từ tư nhân lên tới 500 triệu USD. Số vốn này được giữ cố định, lấy lãi hàng năm làm kinh phí hoạt động, như trả lương cho 50 GS cơ hữu của Viện, còn những người đến Viện đó làm việc ngắn hạn hàng năm như làm sau tiến sĩ (khoảng 70 người), hay làm nghiên cứu.. thì hoàn toàn do Nhà nước trả lương (qua quỹ NSF của Mỹ). Mỗi năm có hàng trăm các nhà khoa học đến làm việc tại viện.

Một trong những tôn chỉ hoạt động, mục đích của Viện NCCC Princeton là đào tạo sau tiến sĩ. Sau khi làm xong PhD (tiến sĩ), muốn làm việc chuyên nghiệp thì phải làm post doc (sau tiến sĩ). Thời gian làm post doc tạo ra cơ hội học hỏi từ người giỏi gần như số một thế giới, người có khả năng truyền cảm hứng hay có giải đáp nào đó mà có thể thay đổi công việc khoa học của người đó.

Viện IAS của Princeton có được khoản vốn 500 triệu USD là vì họ đã tích lũy trong 70 năm. Bây giờ chúng ta mới thành lập thì không thể làm giống như vậy, đạt được ngay như họ. Vì thế, chúng ta mới phải đặt ra vấn đề có một cơ chế đặc biệt cho hoạt động của viện.

Như GS Ngô Bảo Châu nói, một trong những mục tiêu của viện nghiên cứu cấp cao này là tạo vườn ươm cho các nhóm nghiên cứu. Liệu có tình trạng giảng viên từ các trường ĐH sau khi về viện làm việc một thời gian, nâng cao được trình độ, năng lực, sẽ tiếp tục ra nước ngoài nghiên cứu và không quay về trường cũ? Như vậy liệu có phải là một sự đầu tư lãng phí?

GS Ngô Bảo Châu: Cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Hiện nay, nhà nước cũng đang đầu tư rất nhiều tiền cho chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Nếu không có chính sách, việc thu hút những người cử đi đào tạo ở nước ngoài về cũng còn khó khăn, nói gì đến những người tự tìm kiếm được cơ hội đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.

Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ. Còn sau đó, nếu họ đã ổn định cuộc sống gia đình, công việc ở nước ngoài, việc thu hút họ về hẳn sẽ khó hơn. Việc hình thành một viện nghiên cứu có thể đảm nhận được việc đào tạo sau tiến sĩ ngay trong nước cũng là một điều kiện để thu hút các nhà khoa học sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ trở về Việt Nam.

GS Lê Tuấn Hoa
: Nếu sau thời gian làm việc ở viện nghiên cứu cao cấp về toán, các nhà toán học Việt Nam đủ trình độ, uy tín được các GS nước ngoài nhận đi làm nghiên cứu tiếp thì theo tôi, đó là một điều đáng mừng, đáng tự hào chứ không đáng lo.

Trong bài phát biểu của anh Châu ở Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình có đề cập tới điều kiện cho khoa học phát triển lành mạnh là cần có tự do tuyệt đối. Đặt trong bối cảnh của mình hiện nay, nên hiểu ý của anh như thế nào?
GS Ngô Bảo Châu: Khoa học cơ bản do sự đầu tư, nhà nước có định hướng. Nhưng nếu nhà nước có chỉ định cụ thể, tôi không tin điều đó sẽ giúp cho khoa học phát triển. Tự do tức là việc tự nhà khoa học chọn làm, chứ không phải người khác bảo làm cái gì. Một ví dụ cụ thể, những nơi mà khoa học phát triển, chẳng hạn, Pháp đầu thế kỷ 19, Đức cuối thế kỷ 19 và Mỹ trong thế kỷ này, là những nơi mà tinh thần tự do học thuật đạt đến đỉnh cao.

Cập nhật theo:Tinmoi.vn