Posts tagged học sinh

Phát triển bền vững hệ đào tạo không chính quy

Trong cuộc thảo luận về chất lượng hệ đại học tại chức vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên, nếu làm như vậy thì đã đi ngược lại với xu thế phát triển thời nay. Đại chúng hóa giáo dục đại học là xu thế tất yếu

Đặc điểm của thời đại hiện nay là sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức. Trong khung cảnh đó nền giáo dục của thế kỷ 21 có những biến đổi to lớn, đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”. Về giáo dục đại học (GDĐH), từ quan niệm trước đây GDĐH chỉ của số ít người thì ngày nay phải dành cho số đông, tức là phải trở thành nền GDĐH đại chúng. Có thể nêu vài ví dụ về xu thế đại chúng hóa GDĐH: Tổng số SV vào đầu thế kỷ 21 ở Trung Quốc chỉ gần 7 triệu, ở nước ta gần 1 triệu, thì nay (2010) Trung Quốc có 30 triệu, nước ta có gần 2 triệu. Tổng số SV trên toàn thế giới năm 2007 là 150 triệu, tăng khoảng 50% so với đầu thế kỷ.

Trong một nền GDĐH đại chúng, cần có nhiều loại hình đào tạo khác nhau. Ngoài loại hình đào tạo thông thường, được gọi là chính quy (CQ), còn có các loại hình đào tạo khác mà ở nước ta quen gọi là tại chức, từ xa …hoặc gộp chung bằng tên gọi là không chính quy (KCQ).

Hệ CQ được tuyển sinh chặt chẽ, phần lớn là học và thi tại trường, ban ngày, đào tạo chủ yếu theo cách mặt-giáp-mặt (người dạy và người học gặp nhau nhiều), thời gian học tập một năm thường 8, 9 tháng …

Còn hệ KCQ, ngược lại, tuyển sinh không chặt chẽ (hoặc chỉ ghi danh học), phần lớn học và thi ở các địa điểm “liên kết” xa trường, học ban đêm, đào tạo chủ yếu theo phương thức giáo dục mở và từ xa (GDM&TX) vì tần suất mặt-giáp-mặt rất thấp, thời gian học trong một năm thường chỉ tối đa vài tháng ở các địa điểm “liên kết”…

Tầm quan trọng của hệ đào tạo KCQ

KCQ là loại hình rất quan trọng của GDĐH ngày nay, vì với yêu cầu không quá khe khắt trong quá trình học nó có thể thu hút được nhiều người học đại học; ngoài ra nó cũng phù hợp với phong cách học suốt đời trong một xã hội học tập. Cho nên, chẳng những số SV đại học có xu hướng tăng như đã nêu trên, mà tỷ số SV KCQ so với SV CQ cũng ngày càng tăng, và trong tương lai GDĐH CQ chỉ phát triển tới chừng mực nhất định, còn GDĐH KCQ sẽ ngày càng mở rộng.

Trong cuộc tranh luận về hệ tại chức (là một bộ phận của hệ KCQ) vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc thậm chí xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên vì tầm quan trọng nêu trên của hệ KCQ, chúng tôi cho rằng không nên và không thể tìm cách xóa bỏ hoặc thu hẹp nó, mà phải tìm giải pháp phát triển bền vững hệ KCQ để nó trở thành một nhân tố quan trọng của xã hội học tập ở cấp đại học.

Các biện pháp để phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ

Thế nào là phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ? Trong xã hội ngày nay có nhiều loại hình học tập thường xuyên ở nhiều trình độ khác nhau nhằm nâng cao dân trí và cải thiện chất lượng cuộc sống, phần lớn không cần văn bằng, với các loại hình này không cần phải đánh giá nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, hệ đào tạo đại học KCQ lại thường hướng đến văn bằng, do đó cần phải có cách quản lý chặt chẽ, đảm bảo sao cho sản phẩm đào tạo được “dán nhãn” đúng với chất lượng của nó. Có như vậy thì văn bằng của loại đào tạo KCQ mới giữ được uy tín đối với xã hội, và những người theo học KCQ nghiêm túc mới không bị thiệt thòi, khi đó hệ đào tạo KCQ mới phát triển bền vững.

Vậy làm thế nào quản lý chất lượng hệ đào tạo KCQ? Theo kinh nghiệm nước ngoài thường có hai cách.

- Ở các nước phát triển, trong trường đại học thường có hai loại SV: toàn thời gian (full time) và bán thời gian (part time). Hai loại SV này cùng học theo một chương trình, cùng được đánh giá kết quả học tập như nhau, chỉ khác là SV loại sau trong một năm học có thể học ít môn hơn so với loại trước, nên tổng thời gian để hoàn thành đại học phải kéo dài hơn. Từ đó, hai loại SV cùng học một ngành đào tạo ở một trường đại học nào đó phải được cấp cùng một loại văn bằng, không phân biệt toàn thời gian hay bán thời gian, tức là chất lượng SV hai loại hoàn toàn tương đương.

- Ở các nước nước nghèo hơn, vì các trường đại học thông thường không đảm bảo đủ chỗ cho rất đông SV muốn học, chính phủ phải đầu tư cho một vài trường đại học mở tập trung đào tạo KCQ bằng công nghệ Giáo dục Mở và Từ xa (GDM&TX) chuyên biệt để đào tạo cho số đông. Thực chất SV hệ KCQ học tập theo phương thức GDM&TX, không phải theo phương thức “mặt-giáp-mặt” thông thường, do đó muốn đảm bảo chất lượng của GDM&TX phải có công nghệ tương ứng cho GDM&TX chứ không thể sử dụng công nghệ giáo dục mặt-giáp-mặt cộng với những quy định rất dễ dãi như chúng ta đang làm. Công nghệ GDM&TX cũng không có gì là bí hiểm, chỉ bao gồm một hệ thống tài liệu học tập tốt thích hợp và hệ thống công cụ đánh giá chặt chẽ cho mọi chương trình đào tạo đại học, ngoài ra, còn có cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin và truyền thông. Yếu tố quan trọng nhất của công nghệ GDM&TX là đánh giá chặt chẽ kết quả học tập: nếu đào tạo mặt-giáp-mặt sản phẩm đào tạo được đánh giá qua cả một quá trình thì GDM&TX không có điều kiện để đánh giá trong cả quá trình nên buộc phải đánh giá chặt chẽ đầu ra của từng môn học trong chương trình đào tạo.
Đại học mở là cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập

Một số nước gần ta đã rất thành công trong việc áp dụng cách thứ hai nói trên. Ví dụ vào thập niên 1990 hai đại học mở của Thái Lan đã đào tạo khoảng 700 nghìn SV KCQ bằng công nghệ GDM&TX, còn 50 trường đại học thông thường khác chỉ tập trung đào tạo tốt khoảng 300 nghìn SV CQ theo phương thức mặt-giáp-mặt. Sở dĩ chất lượng SV KCQ có thể chấp nhận vì các đại học mở của họ đã xây dựng được hệ thống công cụ đánh giá cho từng môn học của các chương trình đại học, triển khai nhiều lần trong năm rất chặt chẽ như các kỳ tuyển sinh đại học ở ta, ai tích lũy được mọi chứng chỉ đánh giá môn học cho một chương trình đào tạo thì được cấp bằng. Trường Đại học mở Trung Quốc cũng sử dụng hệ thống công cụ đánh giá như vậy để quản lý chất lượng chẳng những của hệ KCQ và còn của các đại học tư. Trung Quốc có khoảng 1400 trường đại học tư nhưng chỉ khoảng 200 trường được cấp bằng sau một quy trình kiểm định chất lượng nghiêm khắc, ở 1200 trường tư còn lại SV theo học nhưng không được cấp bằng: bất kỳ ai muốn có bằng, kể cả những người tự học, thì phải tham gia các kỳ thi từng môn học của đại học mở nói trên. Như vậy các đại học mở chẳng những giúp đảm bảo chất lượng của hệ thống đào tạo KCQ mà còn trở thành cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập và quá trình học suốt đời.

Mong nuốn của Nhà nước và những thiếu sót về chiến lược

Chất lượng thấp của hệ tại chức và hệ KCQ nói chung là một nhức nhối của GDĐH nước ta hàng nhiều thập niên qua. Công luận và cả ở diễn đàn Quốc hội đã nhiều lần bàn đến vấn đề nhức nhối này. Nhà nước cũng đã mong muốn xử lý vấn đề này, thể hiện rõ nhất ở hai Luật Giáo dục năm 1998 và 2005. Thật vậy, Luật GD 1998 quy định khi cấp văn bằng phải ghi hình thức học tập (CQ và KCQ), tuy nhiên, trong Luật GD năm 2005 đã bỏ quy định ghi hình thức học tập nói trên, có nghĩa là phải đảm bảo có sự tương đương giữa hai loại hình đào tạo, giống như hai hình thức toàn thời gian và bán thời gian đã nói trên đây trong GDĐH ở các nước phát triển. Tuy nhiên cho đến nay phần lớn các trường đại học và ngay Bộ GD&ĐT vẫn sử dụng các loại bằng riêng để cấp cho hai hình thức đào tạo CQ và KCQ, lý do là có sự chênh lệch rõ rệt về chất lượng giữa hai loại hình đào tạo đó. Như vậy, mong muốn xóa bỏ sự phân biệt hai loại hình đào tạo của Nhà nước là không khả thi. Bởi vì không thể xóa bỏ sự phân biệt này chỉ bằng một quy định có tính hành chính, mà phải bằng các biện pháp có tính chiến lược.

Trong khi đó, các biện pháp khác liên quan có khả năng giúp giải quyết vấn đề chất lượng của hệ KCQ lại bị bỏ qua. Như trên đây đã nói, thực chất hệ KCQ liên quan đến phương thức GDM&TX chứ không phải phương thức đào tạo mặt-giáp-mặt thông thường. Thế mà cho đến nay phương thức GDM&TX đã không được chú ý. Thật vậy, hai đại học mở của ta được thành lập từ năm 1993 để tập trung cho GDM&TX, nhưng đã bị “bỏ quên”, chưa hề được đầu tư thích đáng nào của Nhà nước cho chức năng này, và đã trở thành các “đại học khép”. Điều đáng tiếc là một đề án phát triển GDM&TX 2005-2010 đã được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2005 nhưng cho đến nay chưa được thực hiện! Tình trạng nói trên thể hiện một khiếm khuyết lớn của chiến lược phát triển GDĐH nước ta. Chỉ cần Nhà nước dành vài phần trăm chi phí cho các trường đại học “đẳng cấp thế giới” chia sẻ cho hai đại học mở thì cũng có thể giúp họ xây dựng hệ thống công nghệ GDM&TX tốt, từ đó hai đại học mở có và các trường đại học khác có thể sử dụng chúng để nâng cao chất lượng đào tạo hệ KCQ.

Giải pháp nâng cáo chất lượng hệ KCQ ở nước ta

Theo các số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT hiện nay thì ở nước ta có khoảng gần 1 triệu sinh viên (SV) hệ KCQ trong tổng số khoảng gần 2 triệu SV, tức là hệ KCQ chiếm khoảng một nửa tổng số SV đại học. Cho nên nâng cao chất lượng của hệ KCQ là một vấn đề quan trọng ở tầm chiến lược.

Muốn nâng chất lượng của hệ KCQ ở nước ta phải có giải pháp cả về công nghệ và quản lý. Về công nghệ, phải xây dựng được công nghệ GDM&TX thích hợp như đã nói trên, còn về quản lý, phải giải quyết cả vấn đề “nồi cơm”, tức là tăng thu nhập cho các trường đại học và phải phân công lại việc đào tạo hệ KCQ.

- Xây dựng hệ thống tài liệu học tập có chất lượng cao và hệ thống công cụ đánh giá thích hợp cho GDM&TX là công đoạn tốn kém mà một trường đại học bình thường khó làm được, Nhà nước phải đầu tư ban đầu thích đáng cho một vài trường làm đầu mối thực hiện, thích hợp nhất là 2 đại học mở. Có kinh phí đầy đủ, các trường này sẽ huy động đội ngũ giảng viên giỏi trong toàn hệ thống GDĐH xây dựng hệ thống nói trên cho mọi chương trình đào tạo đại học.

- Vấn đề tăng thu nhập cho các trường đại học thì rất phức tạp, tuy nhiên không phải không có lối ra. Không thể không tính đến việc nâng lương cho giảng viên đại học, nhưng đó là biện pháp lâu dài. Ngoài ra cần sử dụng cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước, người học và xã hội. Công thức “học phí cao+ hỗ trợ cao” cần được thực hiện: tăng học phí đến mức đảm bảo phần lớn chi phí đào tạo, đồng thời sử dụng tốt quỹ tín dụng SV. Cố gắng tăng thích đáng quỹ tín dụng đó và có biện pháp cấp đúng người cần được hỗ trợ thì có thể tăng học phí lên mức thích hợp. Đây là cơ chế tốt nhất đảm bảo công bằng xã hội. Ngoài ra, cần tăng kinh phí nghiên cứu, đặc biệt cho các trường đại học trọng điểm.

- Cần tổ chức và phân công lại việc triển khai đào tạo KCQ: hai đại học mở đảm nhiệm đào tạo phần lớn SV KCQ bằng hệ thống công nghệ GDM&TX đã được xây dựng tốt, Nhà nước ủy thác cho hai đại học mở triển khai đánh giá các môn học của mọi chương trình đại học nhiều lần trong năm; các trường khác sử dụng hệ thống công nghệ GDM&TX mà 2 đại học mở đã làm đầu mối xây dựng để đào tạo, có thể họ chỉ triển khai giảng dạy, còn SV tham gia hệ thống đánh giá chung của hai đại học mở. Riêng các đại học trọng điểm quốc gia thì không nên đào tạo KCQ mà tập trung cho nghiên cứu khoa học và đào tạo CQ chất lượng cao.

Trên đây là vài ý kiến về một giải pháp tổng thể để giải quyết tận gốc vấn đề chất lượng của hệ KCQ trong GDĐH nước ta, tạo điều kiện cho hệ KCQ phát triển bền vững. Các đại học mở là yếu tố quan trọng làm nòng giúp nâng cao chất lượng hệ KCQ, cũng làm cầu nối giữa hệ đào tạo CQ của GDĐH và xã hội học tập.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy giải pháp này có tính khả thi cao, và chắc chắn sẽ thành công khi có quyết tâm cao của những người lãnh đạo.

Chúng tôi hy vọng vào quyết tâm đó, bởi vì sẽ là vô nghĩa nếu cứ nói đến chất lượng GDĐH mà không kiểm soát được chất lượng của một nửa tổng số SV đại học nước ta.

Theo:dantri

Khi teen đánh đổi gia đình lấy tình yêu

Mọi người thường cho rằng tình yêu là tất cả, nó còn quý trọng hơn cả tiền bạc, thậm chí là… thời gian, nhưng liệu đã đủ để khiến bạn phải từ bỏ gia đình và người thân của mình để “chạy” theo “ảo mộng” tình yêu?

Trong vấn đề tình cảm thật khó để người ta còn lý trí để nhìn nhận và cân nhắc bản thân. Tuy nhiên đó không phải là một lý do chính đáng để một số bạn có thể đưa ra định nghĩa: “Tình yêu là phải hy sinh, sẵn sàng từ bỏ những thứ cản trở xung quanh mình… kể cả gia đình cũng có thể ngoảnh mặt làm lơ”(?)

Trong suốt gần một năm cùng nhau đến trường, cùng nhau đi chơi, cùng ăn cơm thậm chí là… ngủ chung với nhau mỗi ngày. Bấy nhiêu là đủ để người nhà hai bên hiểu bọn trẻ thế nào. Trong mắt bố mẹ X, Hải thuộc dạng công tử bản tính cộc cằn, nông nổi, lười biếng không chịu học hành mà cũng chẳng có hướng làm ăn, suốt ngày chỉ biết “bòn rút” tiền của gia đình để ăn chơi, chi trả cho các khoản thanh toán rượu tại các quán bar, vũ trường mỗi ngày.

Là người lớn, tất nhiên bố mẹ của X kiên quyết không để Hải tiếp tục bám theo con gái của mình. Gia đình sẵn sàng cho X bất cứ thứ gì nếu X có thể từ bỏ Hải ngay lập tức. Nhưng cái mà X đang vướng mắc, đó là tình yêu. Gia đình càng ngăn cản thì X lại càng cảm thấy yêu Hải nhiều hơn.   Sau khi bị gia đình bắt nhốt trong phòng không cho ra đường,  X quyết định bỏ trốn và sẵn sàng từ bỏ luôn cả gia đình, bố mẹ để đi theo Hải mặc kệ là sau này chuyện tình cảm của cả hai có thành công hay thất bại thì đối với X: “Ít ra mình cũng đã có được anh ấy”…

Nhìn theo cái tình thì phải công nhận một điều là bạn X này rất ư “mạnh mẽ” và dũng cảm đối với chuyện tình yêu nhưng nhìn theo cái lý thì X đã trở thành người con bất hiếu mất rồi.

Như đối với Thanh.X, tình yêu là một thứ gì đó rất kỳ diệu. Mới quen nhau chưa được một năm, nhưng trong mắt X, người yêu là người hết sức lý tưởng. Ngoại hình anh chàng bảnh bao, trắng trẻo, nhà lại giàu, rồi đến khoản ga lăng, đặc biệt chịu chơi… tất tần tật đều khiến X ngẩn ngơ, thẫn thờ.

Một năm yêu nhau của X và Hải (tên người yêu) có thể cho là khá lâu đối với chuyện yêu đương nam nữ giữa cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”. Nhưng nhìn theo hướng lâu dài thì 1 năm chẳng đủ để hai người hiểu và yêu nhau đến mức có thể từ bỏ cả gia đình để đến với nhau.

HS trường ngoài công lập không được chuyển sang trường công lập

Sở GD-ĐT Hà Nội vừa có văn bản quy định việc chuyển trường đối với học sinh THPT. Theo đó, học sinh đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập.

Sở GD-ĐT Hà Nội yêu cầu các trường thực hiện công khai, đúng quy định, đảm bảo sĩ số học sinh (HS) không vượt quá chỉ tiêu được giao. HS đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập, trừ trường hợp ở những nơi HS chuyển đến không có trường ngoài công lập được giám đốc Sở GD-ĐT duyệt cho phép.

HS học thí điểm chương trình THPT tại các trung tâm giáo dục thường xuyên không được chuyển đến học tại các trường THPT công lập hoặc ngoài công lập. HS đang học tại lớp không chuyên không được chuyển đến học lớp chuyên (chỉ tuyển bổ sung HS vào lớp chuyên theo Quy chế của trường THPT chuyên).

HS đã trúng tuyển vào lớp 10 trường THPT công lập phải học ổn định hết cấp tại trường đó. Trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình học tập cần phải chuyển trường, Sở sẽ xem xét, giải quyết căn cứtình hình thực tế (số lượng, chất lượng HS) của trường tiếp nhận.

Không lợi dụng việc chuyển trường để làm thay đổi kết quả học tập và rèn luyện của HS hoặc buộc HS phải chuyển trường.

Đối với học sinh người nước ngoài phải có văn bằng hoặc chứng chỉ tốt nghiệp THCS tương đương bằng tốt nghiệp THCS của Việt Nam. HS đã học ở Việt Nam, sau thời gian học ở nước ngoài, khi về nước phải có bằng tốt nghiệp bậc học đã học ở Việt Nam. Được gia hạn thêm 1 tuổi so với quy định của cấp học.

Chương trình học tập ở nước ngoài phải có nội dung tương đương với chương trình giáo dục của Việt Nam với những môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên. Với những môn thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn, HS phải bổ túc thêm kiến thức cho phù hợp với chương trình giáo dục của Việt Nam.

Những HS đang học dở chương trình của một lớp học ở nước ngoài xin chuyển về học tiếp lớp học tương đương tại trường THPT ở Việt Nam phải được nhà trường nơi tiếp nhận kiểm tra trình độ theo chương trình quy định của lớp học đó.

Thời gian chuyển, mỗi năm học có 2 đợt giải quyết chuyển trường cho HS: đợt 1 (đầu năm học) từ 1/7 đến 15/8; đợt 2 (đầu học kỳ II) từ 2/01 đến 15/1. Trường hợp đặc biệt, ngoài thời gian quy định trên sẽ do giám đốc Sở quyết định.

Đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào giáo dục

Đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục và đào tạo ,trong đó có bậc THPT từ năm học 2010-2011.

Nội dung này đã nhận được ý kiến đồng tình của cán bộ quản lý, thầy cô giáo bậc THPT. Tuy nhiên cũng có không ít băn khoăn, lo lắng về tính khả thi, hiệu quả của nó.

“Bội thực” chương trình lồng ghép

So với chương trình cải cách trước đây, chương trình phân ban ở bậc THPT hiện nay, thì về cơ cấu số tiết, nội dung bài học ở từng môn có phần hợp lý và gọn gàng hơn. Nhưng số lượng các môn học, các hoạt động bắt buộc lại tăng lên, thêm vào: môn tin học, giáo dục quốc phòng và an ninh, hướng nghiệp dạy nghề và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nếu như trước đây, mỗi khối chỉ học một buổi sáng hoặc chiều là đủ thì bây giờ, ngoài học một buổi, mỗi tuần các em phải học thêm từ 1 đến 2 buổi nữa. Ngoài áp lực quá tải về chương trình, học sinh còn chịu thêm những sức ép, đòi hỏi khác của nhà trường, của mỗi thầy cô giáo chủ nhiệm, bộ môn. Như vậy, học sinh đang phải chịu đến mấy tầng bị dồn ép, nhồi nhét về mặt học tập. Nay lại thêm một bộ môn Phòng chống tham nhũng (PCTN) vào nữa thì vô hình trung chúng ta “hành xác” con em đến mức quá đáng. Do đó, theo các chuyên gia soạn thảo đề án có ý đưa nó dạy theo kiểu lồng ghép, tích hợp vào môn giáo dục công dân hoặc các môn học xã hội khác phù hợp với điều kiện giảng dạy của từng môn và không tạo thành các môn học riêng.

Ý này cũng đồng với quan điểm của nhiều cán bộ quản lý và thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy mà chúng tôi có dịp trao đổi, chia sẻ. Thầy Trần Thanh Hậu, giáo viên Sử- giáo dục công dân, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) cho biết: Nội dung PCTN nên đưa toàn bộ vào bộ môn GDCD là hợp lý, đừng nên dây qua các các môn xã hội khác. Nhưng tôi e rằng đưa nó vào môn này thì có phần lõang, vì hiện tại, bộ môn GDCD là một bộ môn có số lượng nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào loại nhiều nhất, nào là bảo vệ môi trường, nào là an toàn giao thông, nào là giáo dục giới tính, nào là sức khỏe sinh sản vị thanh niên…Vả lại ,qua thực tế giảng dạy nhiều năm, chúng tôi nhận thấy, đưa những vấn đề, nội dung dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào bộ môn GDCD thường chưa đạt yêu cầu, còn mang nặng tính hình thức. Bởi lẽ, bản thân nội dung, kiến thức ở bài đó, bài kia trong sách giáo khoa, sách giáo viên, thầy cô giáo chưa truyền tải hết được ( do quá dài) thì lấy đâu thời giờ để lồng ghép, tích hợp nội dung đã vào. Lần nào tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề cũng yêu cầu giáo viên phải dạy lồng ghép nhưng thầy cô giáo không dạy thì đành chịu thôi, do chẳng có qui định ràng buộc nào cả, trừ khi có người dự giờ, có thái độ đánh giá nghiêm túc”.

Bỏ một số bài, đưa nội dung PCTN vào

Không chỉ riêng gì môn GDCD, các nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, tích hợp đối với môn Ngữ văn ( về bảo vệ môi trường), môn sinh học ( về giới tính, sức khỏe sinh sản), môn lịch sử ( về lịch sử địa phương)… cũng nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế. Xuất phát từ thực tế đấy, nội dung PCTN đưa vào dạy kiểu lồng ghép, tích hợp là không ổn, cần tách ra thành những bài riêng biệt, để dạy những kiến thức căn bản, tập trung hơn, thầy cô giáo khó thể phớt lờ hoặc bỏ qua được. Tất nhiên, cắt giảm bớt một số bài thuộc về chương trình GDCD ở ba khối. Nhiều giáo viên giảng dạy môn GDCD đề xuất: “Các em lớp 10, còn nhỏ quá, chưa cần đưa PCTN vào, nên bắt đầu từ học sinh lớp 11 là thích hợp với nội dung bài và tâm lý lứa tuổi. GDCD lớp 11, dạy về công dân với kinh tế, với các vấn đề chính trị- xã hội, thì bỏ đi bài Chính sách quốc phòng và an ninh, trang 110 ( vì nội dung này được học kĩ ở bộ môn giáo dục quốc phòng và an ninh rồi) , GDCD lớp 12 dạy học các vấn đề công dân liên quan đến pháp luật, các bài 1, bài 2, bài 3 có một số nội dung na ná giống nhau nên gom lại để nhường “đất” cho nội dung PCTN. Mỗi khối một bài, mỗi bài từ 2 đến 3 tiết là quá đủ”.

Có chế độ bồi dưỡng

Bên cạnh giảng dạy nội dung phòng, chống tham nhũng còn cần được tuyên truyền, giáo dục qua nhiều hình thức, hoạt động đa dạng và phong phú khác như hoạt động ngoại hóa, nói chuyện trước cờ, xây dựng tờ tin nội bộ… Để đạt được hiệu quả tốt cho nội dung này, ban soạn thảo đề án phải phối hợp với bộ giáo dục, các trường đại học…phải có sự chuẩn bị tốt từ khâu biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giảng dạy PCTN cho tất các thầy giáo dạy bộ môn GDCD và đội ngũ cán bộ quản lý, ban giám hiệu các trường, lãnh đạo các sở giáo dục( để thành phần này có nhận thức đầy đủ và biết cách điều hành, triển khai thực hiện.).GDCD- một môn học, mỗi tuần chỉ có 1 tiết mà lại có quá nhiều nội dung khác của xã hội nhờ cậy, gởi gắm vào đó cả, thực sự tạo ra những gánh nặng, áp lực lớn đối với các thầy cô giáo môn học ấy. Phần lớn các trường đại học sư phạm lâu nay đào tạo sinh viên vừa dạy lịch sử vừa dạy giáo dục công dân. Khi vào nghề, các trường thường phân công dạy cả hai: môn lịch sử lẫn công dân. Hơn nữa, giáo dục PCTN là một nội dung mới lạ, khó hiểu, khô khan đối với lứa tuổi học sinh bậc THPT, để dạy cho hay, cho được thì không dễ dàng chút nào, đòi hỏi nhiều ở tâm huyết, trách nhiệm và trình độ tay nghề, kiến thức tốt của đội ngũ thầy cô môn GDCD. Thiết nghĩ, Bộ giáo dục cần có chế độ bồi dưỡng thêm cho họ ( vì hầu hết giáo viên dạy sử- GDCD chỉ sống bằng đồng lương hạn hẹp, không thể dạy thêm, dạy phụ đạo như các môn tự nhiên được), nhằm kịp thời động viên, khích lệ, tiếp sức cho họ thêm yên tâm, phấn khởi, say mê với nghề, với học sinh.

Đỗ Tấn Ngọc
Quảng Ngãi

LTS Dân trí - Bài viết trên đây phản ánh đúng băn khoăn của nhiều giáo viên khi phải lồng ghép nhiều nội dung mới vào môn học hoặc đưa thêm môn học mới vào chương trình (như môn Phòng chống tham nhũng) mà thiếu sự chuẩn bị chu đáo. Điều đó dẫn tới tình trạng không bảo đảm chất lượng dạy và học những nội dung mới hoặc môn học mới; hơn nữa, còn làm ảnh hưởng đến chất lượng những môn học khác vì chương trình học phải “lồng ghép” quá nhiều nội dung mà sức tiếp thu của học sinh chỉ có hạn.

Vì vậy, khi đưa thêm nội dung mới vào chương trình giáo dục nói chung cũng như chương trình THPT nói riêng đều cần xem xét toàn bộ chương trình đã quá tải hay chưa, cần bớt nội dung của môn học nào để thêm nội dung mới cần thiết hơn?

Theo Dân trí

‘Không nhân nhượng học sinh đánh bạn, quay clip’

Đề xuất giải pháp cho nạn bạo lực học đường đang đến mức báo động, Giám đốc Sở Giáo dục TP HCM cho rằng, phải quy định giờ ra vào của học sinh trong các quán trà sữa và dùng pháp luật chế tài học sinh đánh bạn.

Chiều 9/12, đăng đàn trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND, ông Huỳnh Công Minh, Giám đốc Sở GD&ĐT TP HCM thừa nhận bạo lực học đường đang đến mức báo động. Lý giải cho tình trạng này, ông cho rằng gia đình bất hòa và mối quan hệ bạn bè thực dụng làm thay đổi lý tưởng sống, bộc phát những hành động thiếu kiềm chế. Tâm sinh lý học sinh thay đổi cũng là một nguyên nhân quan trọng.

“Việc học sinh chọc ghẹo, đánh nhau không phải là mới trong nhà trường. Nhưng càng ngày càng nghiêm trọng bởi các em đánh nhau có hung khí làm chết người, đánh nhau có tổ chức, băng nhóm và ghi hình phát tán, thậm chí có sự tham gia của gia đình”, ông kết luận.

Người đứng đầu ngành giáo dục của thành phố đã kiến nghị lên HĐND nhiều biện pháp và thiết chế quản lý học sinh vi phạm kỷ luật. “Thiết chế tổ chức quản lý ấy phải được thể hiện bằng quy chế luật pháp”, ông Minh nói.

Đồng tình với ông Minh về nguyên nhân của bạo lực học đường nhưng đại biểu Phạm Minh Trí không chấp nhận biện pháp xử lý học sinh bằng quy chế luật pháp. “Tôi không chấp nhận giải pháp như ông Minh nói là cần phải có luật lệ. Ở đây luật lệ không giải quyết được vì những em đó vẫn đang ở độ tuổi vị thành niên hiếu động. Giải pháp tốt nhất là vấn đề tâm lý kết hợp với gia đình”, ông Trí nhấn mạnh.

Còn đại biểu Nguyễn Văn Bạch thì bức xúc: “Đồng chí báo cáo là có cả băng nhóm, vấn đề ở chỗ vai trò của nhà trường như thế nào mà để sinh ra băng nhóm? Việc quản lý của thầy cô giáo ở trong lớp ra sao, có kịp thời phát hiện những băng nhóm đó không? Liệu chương trình giáo dục của chúng ta đã chú tâm đào tạo phẩm chất đạo đức con người chưa?”.

Trả lời chất vấn, ông Minh nhất trí với ý kiến của đại biểu và thừa nhận chưa “làm triệt để được”. Vị lãnh đạo Sở cũng đưa ra đề nghị những nơi kinh doanh như quán trà sữa cần phải có quy định nghiêm ngặt với học sinh như quy định giờ ra vào…

Đưa ra dẫn chứng cụ thể về vụ một nữ sinh lớp 8 bị cởi đồ, tra tấn tại lớp, đại biểu Lê Thanh Hải chất vấn: “Bạo lực học đường như ở trường Mạch Kiếm Hùng xảy ra ngay tại lớp chứ không phải ở ngoài khuôn viên nhà trường. Tôi không hiểu cách quản lý của nhà trường với các em như thế nào? Tôi đề nghị anh cho biết các giải pháp ngành giáo dục trong thời gian sắp tới trong việc quản lý học sinh?”.

Đáp lại, vị giám đốc Sở cho biết: “Chúng tôi được chỉ đạo đuổi học một năm đối với em chủ mưu đánh bạn và em quay phim phát tán lên mạng. Còn giáo viên chủ nhiệm các em bị khiển trách”.

Trước câu hỏi của đại biểu Phạm Quý Cường về biện pháp hữu hiệu đối với vấn nạn trên vì thực tế có em bị đánh rồi không dám đi học, có trường hợp khác bị kỷ luật nghỉ học khi về gia đình thêm hư hỏng…, ông Minh cho biết, do thời gian có hạn nên sẽ có câu trả lời cụ thể với đại biểu Cường sau. “Nếu phát hiện tiêu cực, thì tính nghiêm túc để giải quyết trước sau như một của Sở là không nhân nhượng mặc dù đó chỉ là học sinh”, ông nhấn mạnh.

Tỏ ra hoài nghi về những biện pháp mà Sở GD&ĐT TP HCM đã làm, ông Nguyễn An Bình chất vấn: “Không biết Sở đã có cuộc điều tra tìm hiểu tỷ lệ bạo lực trong học đường ở các trường thuộc hệ thống công lập của mình so với hệ thống trường tư thục ở nước ngoài nhiều hay ít? Nếu đã làm rồi thì kết quả đó cho ta nhìn nhận gì?”

Ngay lập tức, ông Minh đáp: “Khi vụ học sinh đánh nhau ở Hà Nội xảy ra, lập tức chúng tôi tổ chức hội thảo với hơn 400 nhà khoa học và sư phạm về vấn đề này để đánh giá thực trạng bạo lực đó ở mức độ nào để tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Sau đó, chúng tôi có mời lãnh đạo của Bộ GD&ĐT vào tham dự. Và Bộ đã chỉ đạo là in thành kỷ yếu để gửi cho tất cả các trường trên cả nước”.

Ngoài vấn đề “nóng” bạo lực học đường, các đại biểu cũng đã chất vấn Giám đốc Bộ GD&ĐT Huỳnh Công Minh về các vấn đề giáo dục mầm non, trường công lập tự chủ tài chính, vấn đề dạy thêm và học thêm, lương giáo viên quá thấp, việc thu học phí chưa công bằng…

Theo:vnexpress

Teen với trào lưu tung clip xấu lên mạng

Thời gian gần đây, việc quay clip, ghi âm rồi đưa lên mạng diễn ra liên tục khiến dư luận bàn tán xôn xao và người trong cuộc cũng khổ trăm bề.

Bỏ qua những vụ tung lên mạng với động cơ lên án tiêu cực, cái xấu (vụ clip bảo mẫu Trần Thị Phụng (Bình Dương), clip ghi lại cảnh CSGT bị tài xế taxi hất lên nắp capô…), bài viết này đề cập thực trạng muốn “chơi nổi” hoặc hạ uy tín, danh dự người khác bằng việc lén quay clip, ghi âm những hành động bạo lực, những lời nói không hay rồi tung lên mạng của một bộ phận bạn trẻ.


Trung tuần tháng 11/2010, dư luận phẫn nộ khi xem đoạn clip các nữ sinh lớp 8 Trường THCS Mạch Kiếm Hùng (quận 5, TP HCM) đánh đập dã man một nữ sinh cùng lớp. Đoạn clip dài hơn 5 phút được quay ở một góc lớp trong giờ ra chơi.

Ba nữ sinh dồn nạn nhân xuống cuối lớp, dùng lời lẽ đe dọa bắt nạn nhân phải cởi áo, rồi vừa chửi mắng thô tục vừa đánh, đá, mặc nạn nhân khóc lóc van xin. Đoạn clip này quay ngày 3/11 nhưng đến ngày 19/11, Ban Giám hiệu của trường mới biết do được phụ huynh cung cấp.

Theo lời khai của các nữ sinh, chỉ vì “nhìn thấy ghét” nên đánh bạn cho bõ tức.

Trước đó, ngày 23/10, cư dân mạng đã “mổ xẻ” việc một nữ sinh Trường THPT Lương Thế Vinh (thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh) bị 5 cô gái làm nhục giữa đường.

Trong clip là cảnh nạn nhân bị các cô gái ăn mặc sành điệu đánh đấm và dùng kéo cắt tóc, xé áo trong tiếng reo hò của một số nam sinh. Bức xúc, một người đi đường lên tiếng thì một thanh niên lạnh lùng nói: “Bác cứ kệ chúng nó”.

Trên đây là hai vụ điển hình gần đây nhất trong rất nhiều vụ tương tự như thế. Những vụ việc ầm ĩ này, hình thức cao nhất các trường áp dụng là đình chỉ việc học một năm đối với các nữ sinh đánh bạn và tung clip lên mạng.

Ghi âm những lời nói khó nghe

Những ngày cuối tháng 9/2010, dư luận xôn xao khi trên mạng xuất hiện đoạn ghi âm lén dài đến 18 phút của một nhóm học sinh chuyên lý Trường THPT chuyên Trần Phú (TP Hải Phòng). Nạn nhân của vụ việc này chính là cô giáo dạy tiếng Anh của họ.

Bức xúc bởi thái độ thiếu tôn trọng, xúc phạm của học sinh, cô giáo đã có lời nói, thái độ ứng xử không phù hợp với môi trường sư phạm và tư thế của nhà giáo. Clip này đã gây những bàn cãi trái ngược nhau về cách hành xử của cô giáo lẫn học trò và cũng gây ra cú sốc tâm lý không nhỏ cho những người trong cuộc.

Mới đây, sau phần công bố kết quả Vietnam Idol, trên một số diễn đàn, blog xuất hiện một đoạn ghi âm những lời nói “không đẹp” dài 15 phút của một thí sinh về một bài báo và ban giám khảo (thí sinh đã dừng cuộc chơi tại đêm gala 5).

“Thủ phạm” sau đó đã thừa nhận do quá bức xúc về những lời lẽ không hay của thí sinh kia nên ghi âm lại để chia sẻ cùng những thí sinh khác. Và cũng vì “quá bức xúc”, “thủ phạm” đã chuyển đoạn ghi âm cho một blogger để rồi khi nhận thức được vấn đề đang diễn ra theo chiều hướng xấu, muốn gỡ đoạn ghi âm xuống cũng không còn kịp.

Thiếu kỹ năng sống?

Theo Thạc sĩ xã hội học Nguyễn Thanh Nga, việc quay phim, chụp hình người khác nhằm phát tán rộng rãi trên mạng đang là trào lưu đáng báo động trong giới trẻ. Đã là mốt thời thượng thì nội dung càng “độc” càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng và vì thế càng tạo điều kiện để thể hiện cái tôi.

Trong khi đó, bạn trẻ thiếu quá nhiều kỹ năng sống căn bản để tự bảo vệ mình trước những trào lưu lệch chuẩn, để mặc cho các cảm xúc tiêu cực kiểm soát hành vi và thái độ của mình, khiến họ trở nên nhẫn tâm hơn nỗi đau của người khác. Đây không chỉ là lỗ hổng về giáo dục nhân cách mà còn là sự thiếu hụt kiến thức trên nhiều phương diện, đặc biệt là hiểu biết về pháp luật.

Đối với người tung clip, hành động này thể hiện sự vị kỷ, hiếu thắng nhất thời, mục đích làm đối phương bị sụp đổ về mặt tinh thần nên chấp nhận cả cách ứng xử mang tính ác nghiệt, không màng suy xét đến hậu quả lâu dài.

Đối với nạn nhân, họ phải chịu những cú sốc nặng nề, căng thẳng về mặt tâm lý vì không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến người thân của họ.Áp lực này có thể khiến họ trầm cảm, rối loạn tâm thần và cảm xúc dẫn đến nguy cơ tự tử khi vượt quá mức chịu đựng.

Còn đối với các bạn trẻ xem clip, nếu thiếu kỹ năng “sàng lọc” trong quá trình tiếp nhận thông tin sẽ dần hình thành sự vô cảm.

Theo Người Lao Động

Choáng: Sinh viên nữ lõa thể sinh hoạt trong ký túc xá

Mới đây, ông Vương, một phụ huynh đã vô cùng phẫn nộ và bức xúc trước cảnh các nữ sinh viên ăn, ngủ lõa thể cùng nhau trong ký túc xá. Chính ông Vương là người đưa những hình ảnh phản cảm này lên mạng.

Người dân Trung Quốc vô cùng bức xúc khi những hình ảnh các nữ sinh trong tình trạng không mảnh vải che thân hồn nhiên đi lại, sinh hoạt như chỗ không người.

Được biết, người đưa những hình ảnh này lên là ông Vương, một phụ huynh học sinh. Ông Vương đã vô cùng tức tối và bức xúc khi tình cờ phát hiện ra trong máy tính của con gái mình có những hình ảnh phản cảm và thô thiển. Và ông còn “choáng” hơn khi trong những bức ảnh ấy còn hiện hữu cả khuôn mặt đứa con gái hàng ngày vô cùng ngây thơ và trong sáng của mình.

Sau khi dò hỏi con gái về những bức ảnh đó, ông Vương vô cùng bàng hoàng và sửng sốt khi nhận được câu trả lời thản nhiên từ phía con gái: “Đây chỉ là những hình ảnh vui đùa bình thường trước lúc ngủ…”.

Chình vì thế, ông đã quyết định đưa những tấm ảnh này lên mạng. Ông chia sẻ, ông cảm thấy bất lực trước những thay đổi nhanh đến chóng mặt và trưởng thành sớm của thanh thiếu niên Trung Quốc ngày nay.

Sẽ có 8 khu đô thị đại học

Bộ GD-ĐT cho hay, 8 khu đô thị ĐH sẽ là điểm “tập kết” của các trường ĐH khu vực nội thành phải dời đến. Dự kiến mỗi khu đô thị sẽ có ít nhất 3 trường, nhưng không quá 7 trường….

Thí sinh sau buổi thi ĐH. Ảnh: Lê Anh Dũng

Những nội dung liên quan đến việc di dời các trường ĐH ra ngoại thành được Bộ GD-ĐT bàn với các trường ĐH, CĐ sáng 30/11.


Vẫn theo Bộ GD-ĐT, theo quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội dự kiến sẽ có 8 khu ĐH tập trung.

Các khu đô thị ĐH sẽ được quy hoạch ở Gia Lâm (600-650 ha), Đông Anh (100-200 ha), Sóc Sơn (600-650 ha), Hòa Lạc (1.200-1.500 ha), Xuân Mai (600-650 ha), Sơn Tây (300-350 ha), Phú Xuyên (120-150 ha) và Chúc Sơn (150-200 ha).

Về cơ bản, khu ĐH tập trung hạn chế việc chia đất phân lô cho từng trường xây khép kín mà hình thành tổ hợp các trường ĐH, CĐ của 3 hoặc nhiều trường, bao gồm những trường ĐH, CĐ thành lập mới; trường thành lập mới với các trường di dời toàn bộ và di dời một phần từ nội thành ra; các trường di dời toàn bộ từ nội thành ra hoặc các trường di dời một phần từ nội thành ra.

Dự kiến sẽ có 3 tiêu chí xác định trường không phải di dời, trường sẽ di dời toàn bộ và trường sẽ di dời một phần.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga khẳng định, việc di dời một phần hay toàn bộ là bắt buộc, không bàn lùi.

Ba tiêu chí đưa ra lấy ý kiến các trường ĐH, CĐ gồm: Đất đai; Ngành nghề đào tạo; Năm thành lập và xây dựng. Từng tiêu chí được lượng hóa bằng cách cho điểm từ thấp đến cao theo thang điểm 100.


Trường có tổng điểm càng cao thì sẽ có nhiều khả năng cầm chắc vé phải di dời. Bởi, nguyên tắc cho điểm là các điều kiện nào của trường tốt (hoặc đầy đủ, ổn định) thì nhận ít điểm, các điều kiện nào còn thiếu hoặc chưa tốt (chưa đầy đủ, chưa sẵn sàng, còn phải phát triển thêm nhiều) sẽ nhận điểm nhiều hơn…

Theo tính toán ban đầu Bộ GD-ĐT đưa con số, để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng các khu đô thị ĐH tập trung và cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường trong khu ĐH cho khoảng 650.000 – 700.000 sinh viên như dự kiến thì cần vốn đầu tư khoảng 4,9 tỷ USD. Bình quân mỗi suất đầu tư 1 chỗ ngồi học cần khoảng 140 triệu đồng.

Tất cả những vấn đề đặt ra để quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ đến năm 2050 nhưng lại “khống chế” các trường trong vòng 2 tiếng phải “hiến kế” được cách làm hiệu quả. Bài toán nhận được nhiều “lời hứa” sẽ tiếp thu chủ trương về trường lấy ý kiến tập thể mới hồi âm cho Bộ.

Hiệu trưởng Trường CĐ Sư phạm Trung ương Nguyễn Văn Lê cho rằng, trước khi đặt vấn đề di dời – Bộ cần có một cuộc khảo sát tất cả các trường ở mọi mặt xem họ đào tạo đáp ứng nhu cầu như thế nào? sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm không?…

Thực tế, một số trường mới mở xin được đất là do họ có quan hệ đặc biệt. Nhưng cũng có những trường sinh ra với cơ sở vật chất khang trang nhưng chết yểu vì không tuyển được, ông Lê nói. Do đó, chúng ta ban đến chia đất, phân lô trong khuôn khổ hội nghị này là quá ít thời gian và quá sớm.

Theo Vietnamnet

Trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège

Nội dung bài viết dưới đây xin được xem như một thí dụ chứ không phải là một kiểu mẫu giáo dục. Tất cả những chính sách, qui chế, tổ chức… đại học tùy thuộc rất nhiều yếu tố về truyền thống, lịch sử, văn hóa, nhân lực, phương tiện hiện hữu…

1. Bối cảnh của việc trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège (Bỉ)

Chúng tôi là một Đại học nhỏ, 20.000 sinh viên, một Đại học xưa gần 200 năm tuổi, đã có thời hoàng kim trong hai thế kỷ trước, nhất là với trường Kỷ sư, nhưng hiện không có trong danh sách 200 Đại học hàng đầu thế giới.

Bù lại chúng tôi có truyền thống rất mở: tôn trọng tất cả chính kiến, đảng phái và tôn giáo (có những Đại học ở Bỉ ít tự do hơn chúng tôi).

Đại học Liège nằm trong một khu rừng xanh rộng 2.000 mẫu. Cái hiền hòa và thoáng mát của khung cảnh có thể làm cho con người thoải mái và lịch sự với nhau chăng?

Hệ thống giáo dục ở Bỉ có thể tóm tắt trong ba điểm chính :

- Cưỡng bức và miễn phí hoàn toàn cho tất cả trẻ em tới năm 18 tuổi

- Hệ cao đẳng và đại học được tài trợ bởi chính phủ (từ 10.000 euros tới 15.000 euros cho mỗi sinh viên tùy theo năm và ngành học – sinh viên chỉ đóng từ 400 tới 900 euros mỗi năm).

- Giáo dục phổ thông có một khung chương trình được chính phủ đề ra, dựa theo đó các trường có quyền uyển chuyển sửa đổi áp dụng. Cấp đại học thì hoàn toàn tự do. Nhiều sinh viên chọn trường và chọn môn học trên cơ sở tiếng tăm của trường hay của giáo sư chẳng hạn (kiểu “lên núi tầm sư học đạo” của ta ngày xưa).

Ngoài những chi tiết kể trên, phải kể thêm sơ lược về bối cảnh văn hóa đại học :

- Liên hệ giữa thầy và trò không phải là một liên hệ thẳng trên – dưới, mạnh – yếu mà là một liên hệ tam giác giữa người đi học – kiến thức và người đi dạy. Ba “nhân tố” này đều quan trọng cả ba.

- Sinh viên chọn một ngành học vì nhiều lý do trong đó có sở thích cá nhân, sinh viên “đóng” một vai trò tích cực chứ không thụ động hấp thụ sự truyền đạt của thầy.

- Trong một xã hội mà càng ngày càng chuyên môn hóa – chuyên ngành chuyên nghề, đòi hỏi sự xuất sắc là cần thiết thì  phải dùng mọi phương tiện để đạt được kết quả đó – “chấm điểm” thầy là một trong những phương tiện .

- Riêng tại Liège, đầu những năm 1990, Jean Thérer, một giáo sư ngành giáo dục đã đặt ra “Tuyên Ngôn Quyền của người đi học”  làm nền móng cho một kiểu cách sư phạm nặng tính nhân bản.

2. Cụ thể trò ”chấm điểm” thầy thế nào?

Chiến dịch – opération -  được đặt tên là “SMART Evalens”  được hiểu là  “hệ thống phương pháp giúp thực hiện trắc nghiệm đánh giá giáo sư”  (Système Méthodologique d’Aide à la Réalisation de Tests d’Evaluation des Enseignants)  nhưng chữ Smart được tất cả cộng đồng giáo dục nhớ liền, nó “khả ái” làm sao ấy !

Bảng điều tra chỉ có một tờ, theo nguyên tắc chỉ cần 10 đến 20 phút là điền xong. Thời gian này tùy theo độ dài của  3 câu trả lời mở cuối bảng điều tra.

Ba câu này hỏi ý kiến cá nhân của sinh viên về môn học, về những bài tập ứng dụng hay bài tập có hướng dẫn và về các cuộc thi của môn ấy. Ba câu trả lời này được dành cho ba khung, chiếm nửa trang giấy, tức là một phần tư diện tích của bảng điều tra – vì chúng quan trọng,  thể hiện phê bình riêng tư của từng sinh viên.

Ba câu trả lời này đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức để khai thác, phân tích và đúc kết vì phải đọc bằng… sức người. Những câu “đặc sắc” hay được nhiều sinh viên viết ra sẽ được chép y nguyên lại đưa cho giáo sư liên hệ cùng với những kết quả khác.

Tất cả trên 50 câu hỏi khác (một trang rưỡi của tờ điều tra) đều được trình bày để có thể trả lời bằng cách tô đen. Như thế,  máy tính đọc được và phân tích kết quả bằng chương trình tin học.

Sinh viên chỉ việc “cho điểm” từ 1 thấp nhất đến 5 – hiện nay là tới 6 – điểm cao nhất cho mỗi mục (item) – có quyền không trả lời hay có thể đánh dấu “không liên hệ”

Những câu hỏi này thuộc ba chủ đề :

. Phê bình những bài giảng của môn dạy: 16 câu hỏi đi từ chi tiết cụ thể (giờ giấc, giọng nói, dụng cụ sư phạm, giáo trình…)   cho đến nội dung (có phù hợp với chủ đích của ngành, có giúp cho sinh viên học hỏi thêm, tiến bộ trong chuyên môn, có trùng hợp với các môn khác…)  và dĩ nhiên,  phương pháp sư phạm (có thích hợp với trình độ của sinh viên, có trả lời những khó khăn của sinh viên, có đam mê và truyền đạt cái đam mê ấy cho sinh viên…)

- Phê bình các cuộc thi : 13 câu về cách hỏi thi, cách tổ chức các cuộc thi, cách giáo sư chuẩn bị cho sinh viên học thi, những gì giáo sư chờ đợi nơi sinh viên, chỉ tiêu, “thể lệ” hay cách chấm điểm có được cho biết trước hay không, câu hỏi bài thi có bao phủ hết môn học hay không, …

- Phần thứ ba, quan trọng nhất: 22 câu về bài tập ứng dụng, tham khảo thêm có hướng dẫn hay lâm sàng (cho sinh viên Y khoa và Thú Y)

Trên bình diện sư phạm, sinh viên không thể chỉ biết lý thuyết thôi mà còn phải biết ứng dụng, biết làm, để biết xoay sở trước mọi tình huống sau này, để tự lập. Chúng tôi vẫn nói, một cách hơi quá đáng,  “dạy học tức là giải phóng” (ít nhất là giải phóng cho sự kém hiểu biết) và “người có tri thức là người tự do”.

Ở đây sinh viên phán đoán tầm quan trọng mà giáo sư dành cho các bài tập thực dụng, tổ chức việc làm của các trợ tá đặc trách lo cho sinh viên, công tác điều khiển sinh viên trong quá trình tự học thêm, sự tận tụy giúp đỡ sinh viên, …

Triết lý mà nói, nếu phần ứng dụng này giáo sư làm tốt thì giáo sư rõ là người “khai tâm”, dạy cách học (apprendre à apprendre) cho sinh viên tiếp tục con đường tự học trong suốt quãng đời còn lại.

Cái đánh giá của mỗi sinh viên là chủ quan. Nhưng các mục đưa ra đều cụ thể, có thể “đong và đếm” được.

Dỉ nhiên mỗi bảng điều tra đều có phần hành chính ghi  môn học, tên giáo sư dạy, phân khoa, năm học, ngày điền bảng chấm điểm nhưng tuyệt nhiên không có tên họ của sinh viên, tác giả bảng chấm điểm.

3. Sau đó ?

Phần “khổ sở” tức là công việc của phân khoa sư phạm: khai thác, phân tích và cô đọng các kết quả.

Một công việc nặng vì cả Đại học có hơn cả ngàn giáo sư, dạy ba ngàn môn. Thế nên công việc không thể tái diễn mỗi năm cho mỗi môn mà  thông thường cứ khoảng 5 năm một lần cho mỗi người.

Mỗi giáo sư sẽ nhận được đúng là bảng điều tra với số điểm của mình cho từng mục. Như thế, người đứng trên bục giảng biết được phản ảnh của sinh viên, chỗ nào được, chỗ nào còn thiếu qua nhận định của học trò mình. Và nhất là các ý kiến cá nhân của các sinh viên qua các câu trả lời tự do.

Đồng thời mỗi giáo sư còn nhận được một đồ thị bảng “điểm trung bình” của tất cả các đồng nghiệp cùng một khoa hầu có thể xác định vị trí của cá nhân (trên hay dưới trung bình đó – và trên hay dưới chỗ nào, phạm vi nào) .

Vấn đề đăng các kết quả của “Smart Evalens – đánh giá giáo sư” lên trang nhà nội bộ (intranet) của Đại học đã được bàn đến cách đây mấy năm. Hiện vẫn chưa ngã ngũ.

Nguyên tắc tự do sư phạm không cho phép bất cứ ai, kể cả Viện trưởng Đại học, áp dụng một chế tài nào đối với các giáo sư -  để khen thưởng hay chê bai – Thế nhưng phải nói là cộng đồng đại học ở Liège thoải mái với việc sinh viên cho điểm giáo sư. Có thể vì đại đa số ý thức được vai trò và bổn phận của mình, có thể vì tinh thần trách nhiệm của cá nhân cao.

Một “bảng điểm tốt” là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với người mang nghề “bán cháo phổi”, là một đền bù vô giá cho những giờ cặm cụi soạn giáo trình, chuẩn bị ảnh đèn chiếu (hồi xưa) hay power point (bây giờ), lên giảng đường, …

Những phê bình tiêu cực lại rất là quí giá: một người giỏi nghiên cứu (tất cả giáo sư Đại học qua bổ nhiệm đều là những chuyên gia có giá trị và đã được cộng đồng khoa học quốc tế  thừa nhận)   chưa hẳn là một nhà sư phạm  (vì khả năng sư phạm không phải là bẩm sinh)  nên đánh giá của sinh viên giúp người đi dạy  biết sở trường sở đoản của mình để làm tốt hơn.

Mà cũng có thể giáo sư bị phê bình tiêu cực chỉ vì nhu cầu của đa phần sinh viên một lớp nào đó khác đi so với thường lệ. Mà việc dạy học là một việc chung của người dạy và người học, hai người đi cùng một khúc đường với một chủ đích duy nhất: làm chủ cái hiểu biết.

Hai người đồng hành thì phải sóng bước cùng nhịp với nhau. Không để ý tới nhu cầu và nhận xét của sinh viên, chúng không học tốt thì người đi dạy thất bại. Tệ hơn nữa, không trả lời được chờ đợi của sinh viên, chúng chán nản, không tới lớp, người đi dạy sẽ giảng cho bốn bức tường của giảng đường ư ?

Nếu cần, các giáo sư có thể gọi “cầu cứu” bên bộ phận sư phạm của phân khoa. Bộ phận này làm việc trên cơ sở theo nhu cầu, không áp đặt.  Cùng với giáo sư nhờ giúp, họ sẽ phân tích hoàn cảnh, vốn khả năng của sinh viên, đặc thù và đòi hỏi của môn học để hướng đến những giải pháp sư phạm có thể thích ứng.

Trong tương lai, các giáo sư Đại học sẽ phải chứng minh khả năng sư phạm bằng một chứng chỉ hay bằng cấp chuyên môn.

Nhìn chung, hai phân khoa “dị ứng” nhất, lúc đầu, đối với việc sinh viên chấm điểm giáo sư là Y khoa và Luật khoa. Vì đó là hai phân khoa bảo thủ nhiều hơn. Nhưng tình hình cũng thay đổi và chúng tôi áp dụng hình thức dân chủ này từ hơn hai mươi năm nay.

Sinh viên ở Liège xem việc cho điểm giáo sư là một việc bình thường, cũng bình thường như việc đại diện của sinh viên (qua bầu cử) họp cùng với giáo sư trong Hội đồng Quản trị Đại học hay Hội đồng phân khoa  hầu giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống của Đại học hay của phân khoa.

Thầy giáo sai học sinh… đánh bạn không thuộc bài

Thời gian qua, nhiều phụ huynh có con học tại Điểm trường Cái Nhum thuộc Trường tiểu học Lương Thế Trân (Cái Nước) bức xúc phản ánh việc thầy giáo Châu Thanh Nghị, giáo viên dạy Mỹ thuật – thể dục của trường, thường xuyên cho các học sinh đánh những bạn không thuộc bài.


Điểm trường tiểu học Cái Nhum thuộc Trường tiểu học Lương Thế Trân
Chị Phạm Thu Tâm (ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, Cà Mau) bức xúc: “Con tôi là Trường An, học lớp 3, bị đánh mà chẳng dám nói. Tôi kêu cháu tắm cháu nói đau mình, ngủ thì rên hừ hừ. Dở áo lên thấy nhiều vết bầm ngang lưng, mông. Tôi tra hỏi mãi cháu mới nói bị thầy Nghị cho bạn đánh vì không thuộc bài thể dục”.

Theo lời học sinh Võ Trường An, hôm đó do cháu không thuộc 7 động tác thể dục nên thầy Nghị cho bạn gái cùng lớp là Bùi Thị Huyền Trâm đánh An 27 cái. Còn thiếu một cái thầy Nghị đánh nốt.

Chị Lê Thị Thu ở ấp Bà Bèo, xã Lương Thế Trân, thì phản ánh: Khi tắm cho con trai Quang Linh, học lớp 4 Điểm trường Cái Nhum, chị thấy con có nhiều vết bầm ở thắt lưng. Hỏi thì cháu nói bị thầy giáo Nghị cho học sinh đánh vì không thuộc 6 động tác thể dục.

Khi chúng tôi hỏi chuyện bị đánh ở trường, cháu Mạc Quang Linh khóc hoài. Cháu kể: “Cháu không tập được 6 động tác tay, thầy Nghị cho bạn Tú đánh 24 cái, thấy vậy bạn Sĩ đăng ký đánh thêm, thầy Nghị cũng cho đánh bồi thêm một cái”.
Học sinh Mạc Quang Linh khóc ròng mỗi khi nhắc đến chuyện bị thầy và bạn đánh.

Thầy giáo Châu Thanh Nghị qui định với các lớp: Em nào không tập được một động tác thể dục thì bị đánh 8 cái. Nhưng mỗi bài tập có tới 8 động tác, nhiều quá nên thầy bớt xuống còn 4 cái/ một động tác. Học sinh nam không thuộc bài cho học sinh nữ đánh và ngược lại.

Một trường hợp khác là cháu Phạm Hoàng Lộc, 10 tuổi, học sinh lớp 3, vì không tập được 8 động tác thể dục nên bị thầy Nghị cho bạn Ngô Tuyết Kha đánh 25 cái, bản thân thầy đánh 3 cái.

Ngày 9/11 vừa qua, bà Bùi Thị Tươi, 63 tuổi, bà của cháu Lộc đã đến Điểm trường Cái Nhum phản ánh sự việc trên. Bà Tươi kể: “Tôi đến gặp cô Ba Hoa (cô Hồ Mỹ Hoa – Nhóm trưởng Điểm trường Cái Nhum) trình bày sự việc cháu tôi bị đánh. Tôi đồng ý cháu tôi lì lợm thì bị thầy đánh răn dạy, còn cho học sinh đánh nhiều là không được!”.
Bà Bùi Thị Tươi cùng 2 cháu nội ngoại bị thầy giáo Châu Thanh Nghị trực tiếp đánh và cho bạn đánh.

Cũng theo bà Tươi, trong lúc bà và cô Hoa đang nói chuyện thì thầy giáo Châu Thanh Nghị đi vào, ném gói thuốc và bật lửa xuống bàn, nói: “Tôi đánh để làm nhục, tôi có quyền. Bà tức thì bà đưa thưa công an. Điện thoại nè, bà gọi đi”.

Chứng kiến hành động đó, cô Hoa đã báo cáo sự việc lên Ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Trân.

Trao đổi với chúng tôi, cô giáo Hồ Mỹ Hoa cho biết: “Chúng tôi đã phân tích với thầy Châu Thanh Nghị việc qui định đánh học sinh không thuộc bài là sai. Ngày 10/11, chúng tôi cùng thầy Châu Thanh Nghị đã đến xin lỗi gia đình bà Bùi Thị Tươi nhưng mẹ của cháu Lộc không chịu bỏ qua”.
Hai học sinh Trương Thành Đạt và Văn Hoàng Phúc cũng từng bị thầy giáo Nghị đánh vì bỏ quên hộp màu môn Mỹ thuật.

Đình chỉ giảng dạy 15 ngày

Ông Lý Hùng Kiến, Trưởng Phòng GD- ĐT huyện Cái Nước, cho biết: Sáng ngày 24/11, Phòng GD-ĐT huyện đã triển khai quyết định của Chủ tịch UBND huyện Cái Nước, đình chỉ giáo viên Châu Hữu Nghị vì có hành vi đánh học sinh trong giờ dạy học, trong thời gian 15 ngày (từ ngày 23/11 đến ngày 7/12/2010).

Về phía nhà trường cũng đã yêu cầu giáo viên Châu Hữu Nghị nhận quyết định đình chỉ giảng dạy và làm tường trình, kiểm điểm, tự phong hình thức kỷ luật.

Cùng ngày 24/11, đoàn công tác của Phòng GD- ĐT và Trường tiểu học Lương Thế Trân đã tìm đến gia đình các học sinh bị đánh để xác minh, làm rõ và lắng nghe ý kiến. Phòng GD- ĐT Cái Nước chỉ đạo Trường tiểu học Lương Thế Trân cử cán bộ có chuyên môn tăng cường xuống địa bàn, dự giờ, thăm lớp để kịp thời chấn chính nền nếp.

Trước đây, tại xã Trần Thới (huyện Cái Nước) cũng từng xảy ra chuyện giáo viên quy ước là cho các học sinh vả vào miệng học sinh mắc lỗi. Hậu quả là một học sinh phải nhập viện vị bị nhiều học sinh khác đánh quá mạnh tay.

Theo dantri