Posts tagged học tập

Cô học trò nghèo đạt giải nhất quốc gia môn Địa lí

Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2011 vừa qua, cô học trò nghèo Ngô Thị Biển, học sinh lớp 12 Văn, Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh đã làm nên điều kì diệu khi đạt giải nhất môn Địa lí.

Gian nan con chữ

Trong số 71 em học sinh (HS) thuộc các đội dự tuyển quốc gia của tỉnh Hà Tĩnh trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia vừa qua, Biển là một HS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Nhà em thuộc diện hộ nghèo ở xóm Song Hoành, xã Thạch Vĩnh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình có 5 người con, bố bị bệnh thần kinh, sức khỏe yếu nên dường như công việc đều do đôi vai gầy yếu của người mẹ gánh vác. Dù cuộc sống gia đình khó khăn nhưng cô chị cả Ngô Thị Biển và các em rất chăm học và học giỏi. Trong suốt những năm cấp 1, cấp 2, Biển luôn là HS giỏi.

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2008-2009, Biển mạnh dạn làm hồ sơ thi vào Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh với mong muốn tìm được một môi trường học tập thuận lợi nhất để nuôi lớn ước mơ và hoài bão của mình. Và kỳ thi năm đó, Biển đã đậu vào trường này với số điểm rất cao.

Cũng từ đó, cô học trò nhỏ nhắn ngày ngày trên chiếc xe đạp cũ nát đạp lọc cọc hơn 10 km đến trường học rồi lại về nhà dạy em học bài, phụ giúp bố mẹ công việc nhà. “Nhiều lúc đi học về mệt nhưng thấy bố mẹ lam lũ cả ngày lẫn đêm nên em cũng gác lại việc học để phụ giúp bố mẹ một tay” – Biển tâm sự.

Năm học 2009-2010, khi đang học lớp 11, Biển đã được tuyển chọn vào đội tuyển quốc gia môn Địa lí. Nhưng niềm vui chưa trọn thì gia đình em lại gặp nạn. Năm đó, mẹ em bị rắn cắn, tính mạng nguy kịch. Gia đình rơi vào tình cảnh bế tắc vì chẳng biết lấy tiền đâu để cứu chữa cho người mẹ là trụ cột của gia đình.

Lúc đó, Biển không còn đủ ý chí để tập trung cho kỳ thi quốc gia sắp tới. Nhưng thật may, hoàn cảnh khó khăn cua gia đình em đã được các cơ quan truyền thông biết đến, đưa những thông tin kịp thời nên đã có những lời động viên, hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức và các nhà hảo tâm. “Lúc đó, nhiều lúc em nghĩ chắc mình phải bỏ học để đi làm thuê phụ giúp bố mẹ chứ em là con cả trong nhà, gia đình lại gặp nạn nên lại càng túng quẩn hơn. Trong lúc lâm nguy đó, rất may đã có những “mạnh thường quân” giúp đỡ gia đình em vượt qua khó khăn trước mắt và em lại quyết tâm theo học tiếp” – Biển kể lại.

…và những kỳ tích

Sự tiếp sức của cộng đồng đã giúp Biển vượt lên hoàn cảnh. Và như để đáp lại tấm lòng của bố mẹ, thầy cô và các nhà hảo tâm, Biển đã quyết tâm bứt phá trong chặng cuối của đợt ôn thi HS giỏi quốc gia năm học 2009-2010 và giành giải nhì môn Địa lí và giải ba môn Lịch sử.

Năm học 2010-2011, trong đội tuyến Địa lí, Biển là HS được thầy cô, bạn bè đặt nhiều hi vọng. Hiểu rõ hoàn cảnh của em, nhà trường và các thầy cô luôn sát cánh hỗ trợ về cả vật chất lẫn tinh thần. Lớp học đội tuyển cũng giống như một gia đình nhỏ mà ở đó, thầy cô đã dồn hết kiến thức và tâm huyết cho mỗi giờ lên lớp.

Và Biển đã không để gia đình, thầy cô, bạn bè và những người đặt niềm tin ở em phải thất vọng. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2010 – 2011 vừa qua, Biển đã xuất sắc đạt giải nhất môn Địa lí.
Không chỉ dẫn đầu môn Địa lí, Biển còn được bạn bè nể phục bởi sự chắc chắn, đồng đều trong tất cả các môn học. Em là một trong những gương mặt xuất sắc nhất ở cả 3 môn thi đại học khối C năm học này và cũng là người nhiều năm đạt danh hiệu HS giỏi.

“Môn học Địa lí là một hành trình khám phá kho kiến thức khổng lồ về kinh tế – xã hội, về mỗi vùng miền trong cả nước và cả thế giới. Đây là một môn học đòi hỏi khả năng cảm nhận và trí nhớ tốt đồng thời yêu cầu tính chính xác và tư duy logic nên đòi hỏi người học phải cần mẫn tích lũy những kiến thức bằng một phương pháp khoa học và một niềm say mê. Và không chỉ học trong sách vở mà mình còn phải biết nắm bắt những kiến thức ngoài xã hội” – Biển chia sẽ về bí quyết dẫn đến thành công của mình.

Thầy Nguyễn Quốc Lập, phụ trách đội tuyển ôn thi học sinh giỏi quốc gia môn Địa lí, Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh cho biết: “Biển là một học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn so với các bạn. Nhưng ngược lại, ở Biển lại có một điểm vượt trội đó là sự chăm chỉ, kiên trì trong từng môn học mỗi giờ đến lớp. Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy các đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia nhiều năm, tôi thấy Biển là một cô học trò đáng nể phục bởi ý chí và nghị lực của em”.

Khi hỏi về lựa chọn trong kỳ thi tuyển sinh ĐH sắp tới, cô học trò nghèo tâm sự: “Hoàn cảnh gia đình em khó khăn, bố đau ốm suốt, mẹ dù tuổi còn ít nhưng do làm nghiều nên sức khỏe cũng ngày một yếu. Với lại phía sau em còn 4 người em ăn học nên kỳ thi tuyển sinh ĐH sắp tới em sẽ chọn thi vào trường Cảnh sát hoặc An ninh để giảm gánh nặng lo toan cho gia đình”.

Để tập trung hơn khi vào ĐH

Phần lớn sinh viên thú nhận khi học rất dễ mất tập trung, và luôn cảm thấy uể oải. Đâu là nguyên do và giải pháp khắc phục?


Vì sao sự tập trung giảm dần khi lên đại học?

Vào đại học luôn là mục tiêu lớn nhất của đa số các học sinh trung học phổ thông. Nhưng khi đã trở thành sinh viên rồi, họ mới hiểu rằng, để ngồi được trên giảng đường 4 năm và tốt nghiệp với một tấm bằng loại khá đôi khi gian nan hơn việc thi đại học rất nhiều.

Nhiều bạn sinh viên than thở: “Chỉ khi kì thi đến gần, mình mới học lấy học để. Còn bình thường, không hiểu sao mình chẳng thể nào tập trung được. Dù đã là sinh viên được hơn một học kì nhưng mình vẫn chưa thích nghi với môi trường học hiện tại

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tập trung giảm dần:

* Lên đại học, các sinh viên phải tự tìm tòi nghiên cứu là chính. Nếu không được đốc thúc, không có động lực cụ thể, không ai động viên học tập, thì sẽ trở nên lười biếng và mất hứng thú học tập lúc nào không hay

* Chưa thích nghi với môi trường mới, ở xa nhà nên luôn nhớ về những kỉ niệm xưa cũ. Đôi khi chỉ cần một lời giảng rất đỗi bình thường của thầy cô cũng khiến tâm hồn họ “mơ về nơi xa lắm”

* Sinh viên luôn phải học liên tục hai, ba tiếng đồng hồ, chỉ nghỉ giải lao ngắn khoảng 15-20 phút. Việc học cao độ cộng với kiến thức tiếp thu quá nhiều trong đầu sẽ dẫn đến bão hòa và đuối, càng về sau càng không thể tập trung

* Cảm thấy chán, không hứng thú với môn đang học và tự hỏi không biết học để làm gì. Giảng viên phân tích quá sâu và quá kĩ trong khi sinh viên không đủ thời gian hệ thống hóa lại các kiến thức đã được tiếp thu

* Không hiểu sẽ dẫn đến chán, và chán sẽ khiến sinh viên mất tập trung. Càng mất tập trung lại càng không hiểu. Vòng luẩn quẩn cứ thế lặp lại và sự tập trung cứ thế mà giảm dần…

Cách khắc phục

Khi đã tìm ra được nguyên nhân dẫn đến mất tập trung thì ta hãy khắc phục ngay từ chính những nguyên nhân đó

Bằng cách:

+ Tạo động lực bằng việc thi đua với bạn bè, cố gắng đưa ra những mục tiêu và công khai cho mọi người thấy (khi bạn đã công khai thì mọi người đều chứng kiến, như thế bạn mới có thể phấn đấu đến nơi đến chốn): ghi những dòng quyết tâm lên status, bỏ Facebook, hạn chế tán gẫu tại các diễn đàn…

+ Hòa nhập hơn với bạn bè, lắng nghe họ, cười với họ và chia sẻ cùng họ những trải nghiệm, tâm sự của mình… Khi có nhiều bạn và cởi mở với họ, bạn sẽ cảm thấy yêu đời hơn rất nhiều và mỗi ngày lên giảng đường là một niềm vui đối với bạn

+ Khi đang nghe giảng nên tắt điện thoại và cất đi. Việc để điện thoại trên mặt bàn chỉ khiến bạn có xu hướng nhắn tin, lướt web, nghe nhạc…

+ Khi mệt mỏi, hãy nghỉ một chút. Không nên quá cầu toàn. Nhiều sinh viên thường cố gắng tập trung cao độ dẫn đến tinh thần mệt mỏi, nên thường chỉ tập trung được khoảng thời gian đầu, về sau đuối dần

+ Không nên mang laptop theo khi đi học. Đối với các môn thực hành, mang laptop là rất tốt, nhưng nếu chỉ học những môn liên quan đến lý thuyết, thì nên tập trung lắng nghe hơn. Ngồi bàn đầu và ngồi chung với những bạn chăm học. Nhìn xung quanh thấy ai cũng chăm chú, tự khắc bạn sẽ có hứng

+ Nên đọc sách trước ở nhà khi rảnh

+ Tìm hiểu thêm những thông tin, kiến thức bên ngoài để tích cực trao đổi, thảo luận trên lớp

+ Thay vì bỏ phí hàng giờ đồng hồ để lên mạng và rồi không biết mình phải làm gì tiếp theo, hãy hoàn thành những việc lặt vặt còn dang dở: lau bàn ghế, tưới cây, giặt quần áo… Tự khắc bạn sẽ bị cuốn vào những công việc đó và hăng say làm, hứng thú chơi bời sẽ giảm. Bạn sẽ dễ dàng ngồi vào bàn học hơn.

+ Tránh ghi chép quá nhiều. Chỉ cần ghi những điều không có trong sách vở và bạn cảm thấy đáng để nhớ. Ghi chép nhiều sẽ khiến bạn xao nhãng, và khi đã xao nhãng thì dù cố tập trung đến mấy vẫn không hiểu được giảng viên đang truyền đạt điều gì

+ Ghi ra những nỗi lo trong đầu của bạn, từ chuyện bạn bè, gia đình, tình cảm, quá khứ và tương lai… Ghi hết ra trong một tờ giấy và tự nhủ: “Sẽ giải quyết sau khi học xong”. Đang học mà cứ nghĩ đến những chuyện không đâu, vừa mất thời gian, vừa không giải quyết được gì, lại còn làm cho năng suất học tập giảm sút

+ Hạn chế nhìn đồng hồ và đừng trông đợi, hy vọng những điều khó có thể xảy ra: trường cúp điện, giảng viên vắng mặt, được về sớm… Điều đó chỉ càng khiến bạn mất tập trung mà thôi

Theo Mực Tím

Mỗi thí sinh có tối đa 6 giấy triệu tập trúng tuyển

Thí sinh dự cả 3 đợt thi ĐH, CĐ, nếu không trúng tuyển NV1 vào trường đã dự thi, nhưng có kết quả thi đạt điểm sàn trở lên thì sẽ nhận được tối đa 6 giấy chứng nhận kết quả thi (4 giấy ĐH và 2 giấy CĐ) do trường tổ chức thi cấp.

Thông tin chính thức về kỳ tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011 cho tới thời điểm này vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, những thông tin dự kiến sửa đổi trong Quy chế tuyển sinh 2011 được Bộ công bố lấy ý kiến.

Như Dân trí đã đưa tin, để tránh tình trạng “loạn” giấy báo trúng tuyển, Bộ yêu cầu, năm nay, các trường ĐH, CĐ không được gửi giấy triệu tập trúng tuyển cho thí sinh không nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển (ĐKXT) vào trường.

Theo quy định của Bộ, một thí sinh dự thi cả 3 đợt thi ĐH,CĐ (trên thực tế có rất ít), nếu không trúng tuyển nguyện vọng 1 vào trường đã dự thi, nhưng có kết quả thi đạt điểm sàn ĐH, CĐ trở lên thì sẽ nhận được tối đa 6 giấy chứng nhận kết quả thi ĐH, CĐ (4 giấy ĐH và 2 giấy CĐ) do trường tổ chức thi cấp. Thí sinh sử dụng các giấy này để tham gia ĐKXT nguyện vọng 2, 3 vào các trường ĐH, CĐ. Như vậy, một thí sinh sẽ nhận được tối đa 6 giấy triệu tập trúng tuyển ĐH, CĐ cho cả 2 đợt xét tuyển.

Theo Quy chế tuyển sinh hàng năm của Bộ về đăng ký dự thi (ĐKDT) và ĐKXT yêu cầu: Thí sinh dự thi tại trường nào thì làm hồ sơ ĐKDT vào trường đó; Thí sinh đã dự thi ĐH theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT, nếu không trúng tuyển nguyện vọng 1 đã ghi trong hồ sơ ĐKDT, có kết quả thi từ điểm sàn trở lên, được sử dụng giấy chứng nhận kết quả thi ĐH ngay năm đó để nộp hồ sơ ĐKXT vào các trường còn chỉ tiêu xét tuyển hoặc không tổ chức thi tuyển sinh, có cùng khối thi và trong vùng tuyển quy định.

Thí sinh đã trúng tuyển vào một trường (hoặc một ngành, nếu trường xét tuyển theo ngành) không được xét tuyển vào trường khác (hoặc ngành khác).

Thí sinh có nguyện vọng 1 học tại trường không tổ chức thi tuyển sinh hoặc hệ CĐ của trường ĐH phải nộp hồ sơ ĐKDT và dự thi tại một trường ĐH tổ chức thi theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT có cùng khối thi; đồng thời nộp 1 bản photocopy mặt trước phiếu ĐKDT số 1 cho trường không tổ chức thi tuyển sinh hoặc hệ CĐ của trường ĐH. Những thí sinh này chỉ được xét tuyển theo nguyện vọng 1 vào trường không tổ chức thi hoặc hệ CĐ của trường ĐH; Thí sinh dự thi vào ngành năng khiếu, nếu không trúng tuyển vào trường đã dự thi, được ĐKXT vào đúng ngành đó của những trường có nhu cầu xét tuyển, nếu đúng vùng tuyển quy định của trường và có các môn văn hóa thi theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT.

Thí sinh dự thi CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT, nếu không trúng tuyển nguyện vọng 1 đã ghi trong hồ sơ ĐKDT, có kết quả thi từ mức điểm tối thiểu quy định trở lên (không có môn nào bị điểm 0), được sử dụng giấy chứng nhận kết quả thi CĐ ngay năm đó để nộp hồ sơ ĐKXT vào các trường cao đẳng hoặc hệ cao đẳng của các trường đại học còn chỉ tiêu xét tuyển, cùng khối thi và trong vùng tuyển quy định.

Phát triển bền vững hệ đào tạo không chính quy

Trong cuộc thảo luận về chất lượng hệ đại học tại chức vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên, nếu làm như vậy thì đã đi ngược lại với xu thế phát triển thời nay. Đại chúng hóa giáo dục đại học là xu thế tất yếu

Đặc điểm của thời đại hiện nay là sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức. Trong khung cảnh đó nền giáo dục của thế kỷ 21 có những biến đổi to lớn, đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”. Về giáo dục đại học (GDĐH), từ quan niệm trước đây GDĐH chỉ của số ít người thì ngày nay phải dành cho số đông, tức là phải trở thành nền GDĐH đại chúng. Có thể nêu vài ví dụ về xu thế đại chúng hóa GDĐH: Tổng số SV vào đầu thế kỷ 21 ở Trung Quốc chỉ gần 7 triệu, ở nước ta gần 1 triệu, thì nay (2010) Trung Quốc có 30 triệu, nước ta có gần 2 triệu. Tổng số SV trên toàn thế giới năm 2007 là 150 triệu, tăng khoảng 50% so với đầu thế kỷ.

Trong một nền GDĐH đại chúng, cần có nhiều loại hình đào tạo khác nhau. Ngoài loại hình đào tạo thông thường, được gọi là chính quy (CQ), còn có các loại hình đào tạo khác mà ở nước ta quen gọi là tại chức, từ xa …hoặc gộp chung bằng tên gọi là không chính quy (KCQ).

Hệ CQ được tuyển sinh chặt chẽ, phần lớn là học và thi tại trường, ban ngày, đào tạo chủ yếu theo cách mặt-giáp-mặt (người dạy và người học gặp nhau nhiều), thời gian học tập một năm thường 8, 9 tháng …

Còn hệ KCQ, ngược lại, tuyển sinh không chặt chẽ (hoặc chỉ ghi danh học), phần lớn học và thi ở các địa điểm “liên kết” xa trường, học ban đêm, đào tạo chủ yếu theo phương thức giáo dục mở và từ xa (GDM&TX) vì tần suất mặt-giáp-mặt rất thấp, thời gian học trong một năm thường chỉ tối đa vài tháng ở các địa điểm “liên kết”…

Tầm quan trọng của hệ đào tạo KCQ

KCQ là loại hình rất quan trọng của GDĐH ngày nay, vì với yêu cầu không quá khe khắt trong quá trình học nó có thể thu hút được nhiều người học đại học; ngoài ra nó cũng phù hợp với phong cách học suốt đời trong một xã hội học tập. Cho nên, chẳng những số SV đại học có xu hướng tăng như đã nêu trên, mà tỷ số SV KCQ so với SV CQ cũng ngày càng tăng, và trong tương lai GDĐH CQ chỉ phát triển tới chừng mực nhất định, còn GDĐH KCQ sẽ ngày càng mở rộng.

Trong cuộc tranh luận về hệ tại chức (là một bộ phận của hệ KCQ) vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc thậm chí xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên vì tầm quan trọng nêu trên của hệ KCQ, chúng tôi cho rằng không nên và không thể tìm cách xóa bỏ hoặc thu hẹp nó, mà phải tìm giải pháp phát triển bền vững hệ KCQ để nó trở thành một nhân tố quan trọng của xã hội học tập ở cấp đại học.

Các biện pháp để phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ

Thế nào là phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ? Trong xã hội ngày nay có nhiều loại hình học tập thường xuyên ở nhiều trình độ khác nhau nhằm nâng cao dân trí và cải thiện chất lượng cuộc sống, phần lớn không cần văn bằng, với các loại hình này không cần phải đánh giá nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, hệ đào tạo đại học KCQ lại thường hướng đến văn bằng, do đó cần phải có cách quản lý chặt chẽ, đảm bảo sao cho sản phẩm đào tạo được “dán nhãn” đúng với chất lượng của nó. Có như vậy thì văn bằng của loại đào tạo KCQ mới giữ được uy tín đối với xã hội, và những người theo học KCQ nghiêm túc mới không bị thiệt thòi, khi đó hệ đào tạo KCQ mới phát triển bền vững.

Vậy làm thế nào quản lý chất lượng hệ đào tạo KCQ? Theo kinh nghiệm nước ngoài thường có hai cách.

- Ở các nước phát triển, trong trường đại học thường có hai loại SV: toàn thời gian (full time) và bán thời gian (part time). Hai loại SV này cùng học theo một chương trình, cùng được đánh giá kết quả học tập như nhau, chỉ khác là SV loại sau trong một năm học có thể học ít môn hơn so với loại trước, nên tổng thời gian để hoàn thành đại học phải kéo dài hơn. Từ đó, hai loại SV cùng học một ngành đào tạo ở một trường đại học nào đó phải được cấp cùng một loại văn bằng, không phân biệt toàn thời gian hay bán thời gian, tức là chất lượng SV hai loại hoàn toàn tương đương.

- Ở các nước nước nghèo hơn, vì các trường đại học thông thường không đảm bảo đủ chỗ cho rất đông SV muốn học, chính phủ phải đầu tư cho một vài trường đại học mở tập trung đào tạo KCQ bằng công nghệ Giáo dục Mở và Từ xa (GDM&TX) chuyên biệt để đào tạo cho số đông. Thực chất SV hệ KCQ học tập theo phương thức GDM&TX, không phải theo phương thức “mặt-giáp-mặt” thông thường, do đó muốn đảm bảo chất lượng của GDM&TX phải có công nghệ tương ứng cho GDM&TX chứ không thể sử dụng công nghệ giáo dục mặt-giáp-mặt cộng với những quy định rất dễ dãi như chúng ta đang làm. Công nghệ GDM&TX cũng không có gì là bí hiểm, chỉ bao gồm một hệ thống tài liệu học tập tốt thích hợp và hệ thống công cụ đánh giá chặt chẽ cho mọi chương trình đào tạo đại học, ngoài ra, còn có cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin và truyền thông. Yếu tố quan trọng nhất của công nghệ GDM&TX là đánh giá chặt chẽ kết quả học tập: nếu đào tạo mặt-giáp-mặt sản phẩm đào tạo được đánh giá qua cả một quá trình thì GDM&TX không có điều kiện để đánh giá trong cả quá trình nên buộc phải đánh giá chặt chẽ đầu ra của từng môn học trong chương trình đào tạo.
Đại học mở là cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập

Một số nước gần ta đã rất thành công trong việc áp dụng cách thứ hai nói trên. Ví dụ vào thập niên 1990 hai đại học mở của Thái Lan đã đào tạo khoảng 700 nghìn SV KCQ bằng công nghệ GDM&TX, còn 50 trường đại học thông thường khác chỉ tập trung đào tạo tốt khoảng 300 nghìn SV CQ theo phương thức mặt-giáp-mặt. Sở dĩ chất lượng SV KCQ có thể chấp nhận vì các đại học mở của họ đã xây dựng được hệ thống công cụ đánh giá cho từng môn học của các chương trình đại học, triển khai nhiều lần trong năm rất chặt chẽ như các kỳ tuyển sinh đại học ở ta, ai tích lũy được mọi chứng chỉ đánh giá môn học cho một chương trình đào tạo thì được cấp bằng. Trường Đại học mở Trung Quốc cũng sử dụng hệ thống công cụ đánh giá như vậy để quản lý chất lượng chẳng những của hệ KCQ và còn của các đại học tư. Trung Quốc có khoảng 1400 trường đại học tư nhưng chỉ khoảng 200 trường được cấp bằng sau một quy trình kiểm định chất lượng nghiêm khắc, ở 1200 trường tư còn lại SV theo học nhưng không được cấp bằng: bất kỳ ai muốn có bằng, kể cả những người tự học, thì phải tham gia các kỳ thi từng môn học của đại học mở nói trên. Như vậy các đại học mở chẳng những giúp đảm bảo chất lượng của hệ thống đào tạo KCQ mà còn trở thành cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập và quá trình học suốt đời.

Mong nuốn của Nhà nước và những thiếu sót về chiến lược

Chất lượng thấp của hệ tại chức và hệ KCQ nói chung là một nhức nhối của GDĐH nước ta hàng nhiều thập niên qua. Công luận và cả ở diễn đàn Quốc hội đã nhiều lần bàn đến vấn đề nhức nhối này. Nhà nước cũng đã mong muốn xử lý vấn đề này, thể hiện rõ nhất ở hai Luật Giáo dục năm 1998 và 2005. Thật vậy, Luật GD 1998 quy định khi cấp văn bằng phải ghi hình thức học tập (CQ và KCQ), tuy nhiên, trong Luật GD năm 2005 đã bỏ quy định ghi hình thức học tập nói trên, có nghĩa là phải đảm bảo có sự tương đương giữa hai loại hình đào tạo, giống như hai hình thức toàn thời gian và bán thời gian đã nói trên đây trong GDĐH ở các nước phát triển. Tuy nhiên cho đến nay phần lớn các trường đại học và ngay Bộ GD&ĐT vẫn sử dụng các loại bằng riêng để cấp cho hai hình thức đào tạo CQ và KCQ, lý do là có sự chênh lệch rõ rệt về chất lượng giữa hai loại hình đào tạo đó. Như vậy, mong muốn xóa bỏ sự phân biệt hai loại hình đào tạo của Nhà nước là không khả thi. Bởi vì không thể xóa bỏ sự phân biệt này chỉ bằng một quy định có tính hành chính, mà phải bằng các biện pháp có tính chiến lược.

Trong khi đó, các biện pháp khác liên quan có khả năng giúp giải quyết vấn đề chất lượng của hệ KCQ lại bị bỏ qua. Như trên đây đã nói, thực chất hệ KCQ liên quan đến phương thức GDM&TX chứ không phải phương thức đào tạo mặt-giáp-mặt thông thường. Thế mà cho đến nay phương thức GDM&TX đã không được chú ý. Thật vậy, hai đại học mở của ta được thành lập từ năm 1993 để tập trung cho GDM&TX, nhưng đã bị “bỏ quên”, chưa hề được đầu tư thích đáng nào của Nhà nước cho chức năng này, và đã trở thành các “đại học khép”. Điều đáng tiếc là một đề án phát triển GDM&TX 2005-2010 đã được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2005 nhưng cho đến nay chưa được thực hiện! Tình trạng nói trên thể hiện một khiếm khuyết lớn của chiến lược phát triển GDĐH nước ta. Chỉ cần Nhà nước dành vài phần trăm chi phí cho các trường đại học “đẳng cấp thế giới” chia sẻ cho hai đại học mở thì cũng có thể giúp họ xây dựng hệ thống công nghệ GDM&TX tốt, từ đó hai đại học mở có và các trường đại học khác có thể sử dụng chúng để nâng cao chất lượng đào tạo hệ KCQ.

Giải pháp nâng cáo chất lượng hệ KCQ ở nước ta

Theo các số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT hiện nay thì ở nước ta có khoảng gần 1 triệu sinh viên (SV) hệ KCQ trong tổng số khoảng gần 2 triệu SV, tức là hệ KCQ chiếm khoảng một nửa tổng số SV đại học. Cho nên nâng cao chất lượng của hệ KCQ là một vấn đề quan trọng ở tầm chiến lược.

Muốn nâng chất lượng của hệ KCQ ở nước ta phải có giải pháp cả về công nghệ và quản lý. Về công nghệ, phải xây dựng được công nghệ GDM&TX thích hợp như đã nói trên, còn về quản lý, phải giải quyết cả vấn đề “nồi cơm”, tức là tăng thu nhập cho các trường đại học và phải phân công lại việc đào tạo hệ KCQ.

- Xây dựng hệ thống tài liệu học tập có chất lượng cao và hệ thống công cụ đánh giá thích hợp cho GDM&TX là công đoạn tốn kém mà một trường đại học bình thường khó làm được, Nhà nước phải đầu tư ban đầu thích đáng cho một vài trường làm đầu mối thực hiện, thích hợp nhất là 2 đại học mở. Có kinh phí đầy đủ, các trường này sẽ huy động đội ngũ giảng viên giỏi trong toàn hệ thống GDĐH xây dựng hệ thống nói trên cho mọi chương trình đào tạo đại học.

- Vấn đề tăng thu nhập cho các trường đại học thì rất phức tạp, tuy nhiên không phải không có lối ra. Không thể không tính đến việc nâng lương cho giảng viên đại học, nhưng đó là biện pháp lâu dài. Ngoài ra cần sử dụng cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước, người học và xã hội. Công thức “học phí cao+ hỗ trợ cao” cần được thực hiện: tăng học phí đến mức đảm bảo phần lớn chi phí đào tạo, đồng thời sử dụng tốt quỹ tín dụng SV. Cố gắng tăng thích đáng quỹ tín dụng đó và có biện pháp cấp đúng người cần được hỗ trợ thì có thể tăng học phí lên mức thích hợp. Đây là cơ chế tốt nhất đảm bảo công bằng xã hội. Ngoài ra, cần tăng kinh phí nghiên cứu, đặc biệt cho các trường đại học trọng điểm.

- Cần tổ chức và phân công lại việc triển khai đào tạo KCQ: hai đại học mở đảm nhiệm đào tạo phần lớn SV KCQ bằng hệ thống công nghệ GDM&TX đã được xây dựng tốt, Nhà nước ủy thác cho hai đại học mở triển khai đánh giá các môn học của mọi chương trình đại học nhiều lần trong năm; các trường khác sử dụng hệ thống công nghệ GDM&TX mà 2 đại học mở đã làm đầu mối xây dựng để đào tạo, có thể họ chỉ triển khai giảng dạy, còn SV tham gia hệ thống đánh giá chung của hai đại học mở. Riêng các đại học trọng điểm quốc gia thì không nên đào tạo KCQ mà tập trung cho nghiên cứu khoa học và đào tạo CQ chất lượng cao.

Trên đây là vài ý kiến về một giải pháp tổng thể để giải quyết tận gốc vấn đề chất lượng của hệ KCQ trong GDĐH nước ta, tạo điều kiện cho hệ KCQ phát triển bền vững. Các đại học mở là yếu tố quan trọng làm nòng giúp nâng cao chất lượng hệ KCQ, cũng làm cầu nối giữa hệ đào tạo CQ của GDĐH và xã hội học tập.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy giải pháp này có tính khả thi cao, và chắc chắn sẽ thành công khi có quyết tâm cao của những người lãnh đạo.

Chúng tôi hy vọng vào quyết tâm đó, bởi vì sẽ là vô nghĩa nếu cứ nói đến chất lượng GDĐH mà không kiểm soát được chất lượng của một nửa tổng số SV đại học nước ta.

Theo:dantri

HS trường ngoài công lập không được chuyển sang trường công lập

Sở GD-ĐT Hà Nội vừa có văn bản quy định việc chuyển trường đối với học sinh THPT. Theo đó, học sinh đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập.

Sở GD-ĐT Hà Nội yêu cầu các trường thực hiện công khai, đúng quy định, đảm bảo sĩ số học sinh (HS) không vượt quá chỉ tiêu được giao. HS đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập, trừ trường hợp ở những nơi HS chuyển đến không có trường ngoài công lập được giám đốc Sở GD-ĐT duyệt cho phép.

HS học thí điểm chương trình THPT tại các trung tâm giáo dục thường xuyên không được chuyển đến học tại các trường THPT công lập hoặc ngoài công lập. HS đang học tại lớp không chuyên không được chuyển đến học lớp chuyên (chỉ tuyển bổ sung HS vào lớp chuyên theo Quy chế của trường THPT chuyên).

HS đã trúng tuyển vào lớp 10 trường THPT công lập phải học ổn định hết cấp tại trường đó. Trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình học tập cần phải chuyển trường, Sở sẽ xem xét, giải quyết căn cứtình hình thực tế (số lượng, chất lượng HS) của trường tiếp nhận.

Không lợi dụng việc chuyển trường để làm thay đổi kết quả học tập và rèn luyện của HS hoặc buộc HS phải chuyển trường.

Đối với học sinh người nước ngoài phải có văn bằng hoặc chứng chỉ tốt nghiệp THCS tương đương bằng tốt nghiệp THCS của Việt Nam. HS đã học ở Việt Nam, sau thời gian học ở nước ngoài, khi về nước phải có bằng tốt nghiệp bậc học đã học ở Việt Nam. Được gia hạn thêm 1 tuổi so với quy định của cấp học.

Chương trình học tập ở nước ngoài phải có nội dung tương đương với chương trình giáo dục của Việt Nam với những môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên. Với những môn thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn, HS phải bổ túc thêm kiến thức cho phù hợp với chương trình giáo dục của Việt Nam.

Những HS đang học dở chương trình của một lớp học ở nước ngoài xin chuyển về học tiếp lớp học tương đương tại trường THPT ở Việt Nam phải được nhà trường nơi tiếp nhận kiểm tra trình độ theo chương trình quy định của lớp học đó.

Thời gian chuyển, mỗi năm học có 2 đợt giải quyết chuyển trường cho HS: đợt 1 (đầu năm học) từ 1/7 đến 15/8; đợt 2 (đầu học kỳ II) từ 2/01 đến 15/1. Trường hợp đặc biệt, ngoài thời gian quy định trên sẽ do giám đốc Sở quyết định.

Nhiều doanh nghiệp cũng “nói không” với bằng tại chức

Không có con số thống kê quốc gia về tỉ lệ có việc làm của sinh viên có bằng đại học tại chức, tuy nhiên, nhiều nhà tuyển dụng cho biết, bằng tại chức trên thực tế không được “chào đón” mặn mà bởi các doanh nghiệp.

Bằng đại học tại chức cũng gặp khó ở doanh nghiệp


Bằng cấp không phải là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà tuyển dụng rất thực tế, họ không đánh giá ứng viên bởi những bằng cấp mà đánh giá thực chất trình độ chuyên môn của ứng viên đó

Một đại diện của Công ty Nhân tài Việt, công ty chuyên tuyển dụng nhân sự cho các doanh nghiệp cho biết, “có khoảng 60-70% các doanh nghiệp vẫn nêu rõ ứng viên xin việc phải có bằng đại học chính quy”.


“Chẳng hạn, những ứng viên có bằng tại chức kế toán rất khó xin được việc làm tại các doanh nghiệp”.


“30-40% các doanh nghiệp còn lại không quan tâm đến bằng cấp của ứng viên mà chú ý đến kinh nghiệm làm việc. Một người có bằng tại chức nhưng có kinh nghiệm làm việc lâu năm, giỏi về lĩnh vực của mình vẫn thắng những sinh viên có bằng đại học chính quy nhưng vừa mới tốt nghiệp”, chuyên gia tuyển dụng công ty Nhân tài Việt tiết lộ.


Chuyên gia này cũng cho biết, không thể phủ nhận là có hiện tượng người có bằng tại chức làm việc không hiệu quả, năng lực kém, nhưng cũng không vì thế mà phủ nhận hoàn toàn những người có bằng đại học tại chức.


Ông Lê Tánh, Tổng giám đốc công ty cổ phần giải pháp thanh toán Việt Nam (VNPay) cho biết, trong quá trình phỏng vấn ứng viên tuyển dụng, ông không để ý đến bằng cấp của người đi xin việc mà nhìn vào năng lực và kinh nghiệm của họ. Theo ông, đối với những doanh nghiệp không thuộc Nhà nước, người ta không nặng nề về bằng cấp mà quan trọng là hiệu quả công việc.


Theo quan điểm cá nhân, ông Lê Tánh đánh giá cao chất lượng của người đã có bằng đại học thứ nhất và đi học thêm một bằng đại học thứ hai hơn là một người chỉ có một bằng ĐH là bằng tại chức.


Đối với công ty nước ngoài hay liên doanh, thậm chí bằng chính quy còn khó cạnh tranh, chứ đừng nói tới bằng tại chức.


Đại diện công ty Navigos Group cho rằng “bằng cấp không phải là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà tuyển dụng rất thực tế, họ không đánh giá ứng viên bởi những bằng cấp mà đánh giá thực chất trình độ chuyên môn của ứng viên đó. Nhưng ngược lại, bằng cấp cũng phần nào phản ánh trình độ học vấn, hoàn cảnh, góc nhìn nhận vấn đề của ứng viên”.


“Đó là lý do vì sao có nhiều vị trí, các nhà tuyển dụng rất thích những người đã du học nước ngoài vì những người du học nước ngoài thường có cái nhìn cởi mở hơn và dễ thích nghi hơn”.


Cần có một kỳ thi chung cho chính quy và tại chức


Đại diện của Navigos Group cho biết: ” Nếu chỉ nhìn vào tấm bằng mà không đánh giá chủ nhân của tấm bằng, thì rõ ràng một tấm bằng đại học chính quy có lợi thế hơn”.


“Nói nôm na theo cách hiểu của nhiều người thì tấm bằng chính quy thể hiện chủ nhân của tấm bằng đó được đào tạo theo chương trình chính quy và tập trung toàn bộ thời gian cho việc học tập, trong khi đó tấm bằng tại chức thể hiện chủ nhân của nó có thể là người vừa đi làm, vừa đi học hoặc là người chưa đến được con đường đại học chính quy. Tuy nhiên, nếu đánh giá về người chủ nhân của tấm bằng thì đôi khi câu chuyện lại hoàn toàn khác”.


Một chuyên gia về tuyển dụng nhân sự cao cấp cho biết những công ty nước ngoài khi tuyển nhân sự cũng không để ý đến bằng cấp của người đi xin việc.


Tuy nhiên, nếu cần nhân sự cho vị trí cao cấp như từ vị trí trưởng phòng trở lên thì chỉ nhìn vào những người đã có bằng cấp từ nước ngoài. Không chỉ có thế, ngoài bằng cấp “xịn”, ứng viên cần phải chứng minh được kinh nghiệm làm việc của mình trong lĩnh vực ứng tuyển.Là một người đã từng du học tại Úc, chuyên gia này cho biết, tại nước Úc, các ngân hàng tuyển nhân sự cực kỳ khắt khe. Chẳng hạn, 1.000 người thi tuyển, họ chỉ lựa được khoảng 50 người mỗi năm. Thậm chí, những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc hệ chính quy của các trường ĐH mới được tham gia thi tuyển.


Theo ý kiến cá nhân của chuyên gia này, việc tuyển những người thật xuất sắc vào các cơ quan Nhà nước là cực kỳ quan trọng. Họ là người làm chính sách, vì thế nếu không giỏi thì cả xã hội sẽ bị ảnh hưởng.


Trong quá trình học tập tại nước Úc, chuyên gia này chứng kiến rất nhiều người phải đi học vào buổi tối vì ban ngày phải đi làm. Tuy nhiên, họ vẫn tham gia cùng một kỳ thi với những người học chính quy và nếu đạt yêu cầu, họ cũng nhận được bằng cấp như người học chính quy.


“Nếu ở Việt Nam, có một kỳ thi chung cho người học hệ chính quy và tại chức và chỉ cấp một loại bằng thì bằng cấp sẽ thực chất hơn rất nhiều”, vị chuyên gia nhận xét.

Theo Vietnamnet

Top 10 từ khóa Yahoo VN – GS. Ngô Bảo Châu dẫn đầu

Khác với mọi năm, người đứng đầu danh sách từ khóa tìm kiếm thường là các ngôi sao giải trí, năm nay với sự kiện GS. Ngô Bảo Châu lần đầu tiên đoạt huy chương Fields, tên ông được người dùng Internet quan tâm tìm kiếm nhất trên Yahoo Việt Nam.


GS Ngô Bảo Châu trở thành từ khóa tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo Việt Nam.
Tìm kiếm trên Internet trở thành hoạt động không thể thiếu của người dùng Internet. Ở Việt Nam, xu hướng tìm kiếm cũng thể hiện những mối quan tâm chung của người dùng Internet đối với World Cup, bão lụt miền Trung và các ngôi sao. Tuy nhiên, năm nay, những câu chuyện về người Việt thành đạt, các vấn đề tài chính, và tội phạm mới thực sự là những chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo! Việt Nam.

Khi lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà toán học Việt Nam được trao huy chương Fields danh tiếng (còn được coi là giải Nobel của Toán học), người Việt Nam đã như vỡ òa trong niềm tự hào và háo hức tìm hiều về vị giáo sư trẻ tuổi ít được biết đến trước đây này. GS Ngô Bảo Châu đã trở thành từ khóa được quan tâm nhất trong năm nay.

Năm 2010 cũng chứng kiến những dao động chóng mặt của giá vàng tại Việt Nam. Từ khóa phổ biến thứ 2 trên Yahoo Việt Nam là giá vàng. Đứng ở vị trí tiếp theo là giải thi đấu World cup 2010, ca sĩ Hồ Ngọc Hà, và kẻ giết người Nguyễn Đức Nghĩa…

Sự kiện được nhắc đến nhiều nhất trong năm qua tại Việt Nam là lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Mặc dù được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10, những hoạt động tại lễ kỷ niệm với đầu tư kỹ càng và hoành tráng này đã thu hút sự chú ý của người dân cả nước từ đầu năm 2010.

Không giống như những nước trong khu vực, năm nay, người dùng Internet Việt Nam không tìm kiếm các từ khóa được xem là “hot”, như iPad, iPhone và các ngôi sao quốc tế. Một cái tên nước ngoài duy nhất lọt vào danh sách này và đứng ở vị trí thứ 10 là diễn viên Hàn Quốc, Kim Hyun Joong, người đã hút hồn các cô gái trẻ qua các bộ phim truyền hình.

10 từ khóa tìm kiếm “hot” nhất năm 2010 trên Yahoo! Việt Nam:

1. Ngô Bảo Châu

2. Giá vàng

3. World cup 2010

4. Hồ Ngọc Hà

5. Nguyễn Đức Nghĩa

6. Đàm Vĩnh Hưng

7. Kim Hiền

8. 1000 năm Thăng Long Hà Nội

9. Lũ lụt miền Trung

10. Kim Hyun Joong

Theo dantri.com.vn

Sẽ có 8 khu đô thị đại học

Bộ GD-ĐT cho hay, 8 khu đô thị ĐH sẽ là điểm “tập kết” của các trường ĐH khu vực nội thành phải dời đến. Dự kiến mỗi khu đô thị sẽ có ít nhất 3 trường, nhưng không quá 7 trường….

Thí sinh sau buổi thi ĐH. Ảnh: Lê Anh Dũng

Những nội dung liên quan đến việc di dời các trường ĐH ra ngoại thành được Bộ GD-ĐT bàn với các trường ĐH, CĐ sáng 30/11.


Vẫn theo Bộ GD-ĐT, theo quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội dự kiến sẽ có 8 khu ĐH tập trung.

Các khu đô thị ĐH sẽ được quy hoạch ở Gia Lâm (600-650 ha), Đông Anh (100-200 ha), Sóc Sơn (600-650 ha), Hòa Lạc (1.200-1.500 ha), Xuân Mai (600-650 ha), Sơn Tây (300-350 ha), Phú Xuyên (120-150 ha) và Chúc Sơn (150-200 ha).

Về cơ bản, khu ĐH tập trung hạn chế việc chia đất phân lô cho từng trường xây khép kín mà hình thành tổ hợp các trường ĐH, CĐ của 3 hoặc nhiều trường, bao gồm những trường ĐH, CĐ thành lập mới; trường thành lập mới với các trường di dời toàn bộ và di dời một phần từ nội thành ra; các trường di dời toàn bộ từ nội thành ra hoặc các trường di dời một phần từ nội thành ra.

Dự kiến sẽ có 3 tiêu chí xác định trường không phải di dời, trường sẽ di dời toàn bộ và trường sẽ di dời một phần.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga khẳng định, việc di dời một phần hay toàn bộ là bắt buộc, không bàn lùi.

Ba tiêu chí đưa ra lấy ý kiến các trường ĐH, CĐ gồm: Đất đai; Ngành nghề đào tạo; Năm thành lập và xây dựng. Từng tiêu chí được lượng hóa bằng cách cho điểm từ thấp đến cao theo thang điểm 100.


Trường có tổng điểm càng cao thì sẽ có nhiều khả năng cầm chắc vé phải di dời. Bởi, nguyên tắc cho điểm là các điều kiện nào của trường tốt (hoặc đầy đủ, ổn định) thì nhận ít điểm, các điều kiện nào còn thiếu hoặc chưa tốt (chưa đầy đủ, chưa sẵn sàng, còn phải phát triển thêm nhiều) sẽ nhận điểm nhiều hơn…

Theo tính toán ban đầu Bộ GD-ĐT đưa con số, để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng các khu đô thị ĐH tập trung và cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường trong khu ĐH cho khoảng 650.000 – 700.000 sinh viên như dự kiến thì cần vốn đầu tư khoảng 4,9 tỷ USD. Bình quân mỗi suất đầu tư 1 chỗ ngồi học cần khoảng 140 triệu đồng.

Tất cả những vấn đề đặt ra để quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ đến năm 2050 nhưng lại “khống chế” các trường trong vòng 2 tiếng phải “hiến kế” được cách làm hiệu quả. Bài toán nhận được nhiều “lời hứa” sẽ tiếp thu chủ trương về trường lấy ý kiến tập thể mới hồi âm cho Bộ.

Hiệu trưởng Trường CĐ Sư phạm Trung ương Nguyễn Văn Lê cho rằng, trước khi đặt vấn đề di dời – Bộ cần có một cuộc khảo sát tất cả các trường ở mọi mặt xem họ đào tạo đáp ứng nhu cầu như thế nào? sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm không?…

Thực tế, một số trường mới mở xin được đất là do họ có quan hệ đặc biệt. Nhưng cũng có những trường sinh ra với cơ sở vật chất khang trang nhưng chết yểu vì không tuyển được, ông Lê nói. Do đó, chúng ta ban đến chia đất, phân lô trong khuôn khổ hội nghị này là quá ít thời gian và quá sớm.

Theo Vietnamnet

Trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège

Nội dung bài viết dưới đây xin được xem như một thí dụ chứ không phải là một kiểu mẫu giáo dục. Tất cả những chính sách, qui chế, tổ chức… đại học tùy thuộc rất nhiều yếu tố về truyền thống, lịch sử, văn hóa, nhân lực, phương tiện hiện hữu…

1. Bối cảnh của việc trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège (Bỉ)

Chúng tôi là một Đại học nhỏ, 20.000 sinh viên, một Đại học xưa gần 200 năm tuổi, đã có thời hoàng kim trong hai thế kỷ trước, nhất là với trường Kỷ sư, nhưng hiện không có trong danh sách 200 Đại học hàng đầu thế giới.

Bù lại chúng tôi có truyền thống rất mở: tôn trọng tất cả chính kiến, đảng phái và tôn giáo (có những Đại học ở Bỉ ít tự do hơn chúng tôi).

Đại học Liège nằm trong một khu rừng xanh rộng 2.000 mẫu. Cái hiền hòa và thoáng mát của khung cảnh có thể làm cho con người thoải mái và lịch sự với nhau chăng?

Hệ thống giáo dục ở Bỉ có thể tóm tắt trong ba điểm chính :

- Cưỡng bức và miễn phí hoàn toàn cho tất cả trẻ em tới năm 18 tuổi

- Hệ cao đẳng và đại học được tài trợ bởi chính phủ (từ 10.000 euros tới 15.000 euros cho mỗi sinh viên tùy theo năm và ngành học – sinh viên chỉ đóng từ 400 tới 900 euros mỗi năm).

- Giáo dục phổ thông có một khung chương trình được chính phủ đề ra, dựa theo đó các trường có quyền uyển chuyển sửa đổi áp dụng. Cấp đại học thì hoàn toàn tự do. Nhiều sinh viên chọn trường và chọn môn học trên cơ sở tiếng tăm của trường hay của giáo sư chẳng hạn (kiểu “lên núi tầm sư học đạo” của ta ngày xưa).

Ngoài những chi tiết kể trên, phải kể thêm sơ lược về bối cảnh văn hóa đại học :

- Liên hệ giữa thầy và trò không phải là một liên hệ thẳng trên – dưới, mạnh – yếu mà là một liên hệ tam giác giữa người đi học – kiến thức và người đi dạy. Ba “nhân tố” này đều quan trọng cả ba.

- Sinh viên chọn một ngành học vì nhiều lý do trong đó có sở thích cá nhân, sinh viên “đóng” một vai trò tích cực chứ không thụ động hấp thụ sự truyền đạt của thầy.

- Trong một xã hội mà càng ngày càng chuyên môn hóa – chuyên ngành chuyên nghề, đòi hỏi sự xuất sắc là cần thiết thì  phải dùng mọi phương tiện để đạt được kết quả đó – “chấm điểm” thầy là một trong những phương tiện .

- Riêng tại Liège, đầu những năm 1990, Jean Thérer, một giáo sư ngành giáo dục đã đặt ra “Tuyên Ngôn Quyền của người đi học”  làm nền móng cho một kiểu cách sư phạm nặng tính nhân bản.

2. Cụ thể trò ”chấm điểm” thầy thế nào?

Chiến dịch – opération -  được đặt tên là “SMART Evalens”  được hiểu là  “hệ thống phương pháp giúp thực hiện trắc nghiệm đánh giá giáo sư”  (Système Méthodologique d’Aide à la Réalisation de Tests d’Evaluation des Enseignants)  nhưng chữ Smart được tất cả cộng đồng giáo dục nhớ liền, nó “khả ái” làm sao ấy !

Bảng điều tra chỉ có một tờ, theo nguyên tắc chỉ cần 10 đến 20 phút là điền xong. Thời gian này tùy theo độ dài của  3 câu trả lời mở cuối bảng điều tra.

Ba câu này hỏi ý kiến cá nhân của sinh viên về môn học, về những bài tập ứng dụng hay bài tập có hướng dẫn và về các cuộc thi của môn ấy. Ba câu trả lời này được dành cho ba khung, chiếm nửa trang giấy, tức là một phần tư diện tích của bảng điều tra – vì chúng quan trọng,  thể hiện phê bình riêng tư của từng sinh viên.

Ba câu trả lời này đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức để khai thác, phân tích và đúc kết vì phải đọc bằng… sức người. Những câu “đặc sắc” hay được nhiều sinh viên viết ra sẽ được chép y nguyên lại đưa cho giáo sư liên hệ cùng với những kết quả khác.

Tất cả trên 50 câu hỏi khác (một trang rưỡi của tờ điều tra) đều được trình bày để có thể trả lời bằng cách tô đen. Như thế,  máy tính đọc được và phân tích kết quả bằng chương trình tin học.

Sinh viên chỉ việc “cho điểm” từ 1 thấp nhất đến 5 – hiện nay là tới 6 – điểm cao nhất cho mỗi mục (item) – có quyền không trả lời hay có thể đánh dấu “không liên hệ”

Những câu hỏi này thuộc ba chủ đề :

. Phê bình những bài giảng của môn dạy: 16 câu hỏi đi từ chi tiết cụ thể (giờ giấc, giọng nói, dụng cụ sư phạm, giáo trình…)   cho đến nội dung (có phù hợp với chủ đích của ngành, có giúp cho sinh viên học hỏi thêm, tiến bộ trong chuyên môn, có trùng hợp với các môn khác…)  và dĩ nhiên,  phương pháp sư phạm (có thích hợp với trình độ của sinh viên, có trả lời những khó khăn của sinh viên, có đam mê và truyền đạt cái đam mê ấy cho sinh viên…)

- Phê bình các cuộc thi : 13 câu về cách hỏi thi, cách tổ chức các cuộc thi, cách giáo sư chuẩn bị cho sinh viên học thi, những gì giáo sư chờ đợi nơi sinh viên, chỉ tiêu, “thể lệ” hay cách chấm điểm có được cho biết trước hay không, câu hỏi bài thi có bao phủ hết môn học hay không, …

- Phần thứ ba, quan trọng nhất: 22 câu về bài tập ứng dụng, tham khảo thêm có hướng dẫn hay lâm sàng (cho sinh viên Y khoa và Thú Y)

Trên bình diện sư phạm, sinh viên không thể chỉ biết lý thuyết thôi mà còn phải biết ứng dụng, biết làm, để biết xoay sở trước mọi tình huống sau này, để tự lập. Chúng tôi vẫn nói, một cách hơi quá đáng,  “dạy học tức là giải phóng” (ít nhất là giải phóng cho sự kém hiểu biết) và “người có tri thức là người tự do”.

Ở đây sinh viên phán đoán tầm quan trọng mà giáo sư dành cho các bài tập thực dụng, tổ chức việc làm của các trợ tá đặc trách lo cho sinh viên, công tác điều khiển sinh viên trong quá trình tự học thêm, sự tận tụy giúp đỡ sinh viên, …

Triết lý mà nói, nếu phần ứng dụng này giáo sư làm tốt thì giáo sư rõ là người “khai tâm”, dạy cách học (apprendre à apprendre) cho sinh viên tiếp tục con đường tự học trong suốt quãng đời còn lại.

Cái đánh giá của mỗi sinh viên là chủ quan. Nhưng các mục đưa ra đều cụ thể, có thể “đong và đếm” được.

Dỉ nhiên mỗi bảng điều tra đều có phần hành chính ghi  môn học, tên giáo sư dạy, phân khoa, năm học, ngày điền bảng chấm điểm nhưng tuyệt nhiên không có tên họ của sinh viên, tác giả bảng chấm điểm.

3. Sau đó ?

Phần “khổ sở” tức là công việc của phân khoa sư phạm: khai thác, phân tích và cô đọng các kết quả.

Một công việc nặng vì cả Đại học có hơn cả ngàn giáo sư, dạy ba ngàn môn. Thế nên công việc không thể tái diễn mỗi năm cho mỗi môn mà  thông thường cứ khoảng 5 năm một lần cho mỗi người.

Mỗi giáo sư sẽ nhận được đúng là bảng điều tra với số điểm của mình cho từng mục. Như thế, người đứng trên bục giảng biết được phản ảnh của sinh viên, chỗ nào được, chỗ nào còn thiếu qua nhận định của học trò mình. Và nhất là các ý kiến cá nhân của các sinh viên qua các câu trả lời tự do.

Đồng thời mỗi giáo sư còn nhận được một đồ thị bảng “điểm trung bình” của tất cả các đồng nghiệp cùng một khoa hầu có thể xác định vị trí của cá nhân (trên hay dưới trung bình đó – và trên hay dưới chỗ nào, phạm vi nào) .

Vấn đề đăng các kết quả của “Smart Evalens – đánh giá giáo sư” lên trang nhà nội bộ (intranet) của Đại học đã được bàn đến cách đây mấy năm. Hiện vẫn chưa ngã ngũ.

Nguyên tắc tự do sư phạm không cho phép bất cứ ai, kể cả Viện trưởng Đại học, áp dụng một chế tài nào đối với các giáo sư -  để khen thưởng hay chê bai – Thế nhưng phải nói là cộng đồng đại học ở Liège thoải mái với việc sinh viên cho điểm giáo sư. Có thể vì đại đa số ý thức được vai trò và bổn phận của mình, có thể vì tinh thần trách nhiệm của cá nhân cao.

Một “bảng điểm tốt” là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với người mang nghề “bán cháo phổi”, là một đền bù vô giá cho những giờ cặm cụi soạn giáo trình, chuẩn bị ảnh đèn chiếu (hồi xưa) hay power point (bây giờ), lên giảng đường, …

Những phê bình tiêu cực lại rất là quí giá: một người giỏi nghiên cứu (tất cả giáo sư Đại học qua bổ nhiệm đều là những chuyên gia có giá trị và đã được cộng đồng khoa học quốc tế  thừa nhận)   chưa hẳn là một nhà sư phạm  (vì khả năng sư phạm không phải là bẩm sinh)  nên đánh giá của sinh viên giúp người đi dạy  biết sở trường sở đoản của mình để làm tốt hơn.

Mà cũng có thể giáo sư bị phê bình tiêu cực chỉ vì nhu cầu của đa phần sinh viên một lớp nào đó khác đi so với thường lệ. Mà việc dạy học là một việc chung của người dạy và người học, hai người đi cùng một khúc đường với một chủ đích duy nhất: làm chủ cái hiểu biết.

Hai người đồng hành thì phải sóng bước cùng nhịp với nhau. Không để ý tới nhu cầu và nhận xét của sinh viên, chúng không học tốt thì người đi dạy thất bại. Tệ hơn nữa, không trả lời được chờ đợi của sinh viên, chúng chán nản, không tới lớp, người đi dạy sẽ giảng cho bốn bức tường của giảng đường ư ?

Nếu cần, các giáo sư có thể gọi “cầu cứu” bên bộ phận sư phạm của phân khoa. Bộ phận này làm việc trên cơ sở theo nhu cầu, không áp đặt.  Cùng với giáo sư nhờ giúp, họ sẽ phân tích hoàn cảnh, vốn khả năng của sinh viên, đặc thù và đòi hỏi của môn học để hướng đến những giải pháp sư phạm có thể thích ứng.

Trong tương lai, các giáo sư Đại học sẽ phải chứng minh khả năng sư phạm bằng một chứng chỉ hay bằng cấp chuyên môn.

Nhìn chung, hai phân khoa “dị ứng” nhất, lúc đầu, đối với việc sinh viên chấm điểm giáo sư là Y khoa và Luật khoa. Vì đó là hai phân khoa bảo thủ nhiều hơn. Nhưng tình hình cũng thay đổi và chúng tôi áp dụng hình thức dân chủ này từ hơn hai mươi năm nay.

Sinh viên ở Liège xem việc cho điểm giáo sư là một việc bình thường, cũng bình thường như việc đại diện của sinh viên (qua bầu cử) họp cùng với giáo sư trong Hội đồng Quản trị Đại học hay Hội đồng phân khoa  hầu giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống của Đại học hay của phân khoa.

GS Ngô Bảo Châu được tôn vinh tại Pháp

Tối 16/11, lễ tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng Fields 2010 đã diễn ra trọng thể tại hội trường lớn Khoa Toán Trường đại học Paris 11, ở thành phố Orsay, ngoại ô Paris, Pháp.

Trong diễn văn khai mạc lễ tôn vinh, Chủ tịch Đại học Paris 11, ông Guy Couarraze đã khẳng định niềm tự hào của khoa Toán và Đại học Paris 11 được đón tiếp người học sinh cũ, người đã đoạt giải thưởng Clay danh giá năm 2007 cùng với giáo sư Gérard Laumon khi giải quyết hoàn toàn bổ đề cơ bản. Công trình này cũng được tạp chí Time của Mỹ xếp là 7 trong 10 khám phá khoa học nổi bật của thế giới năm 2009.

Theo ông Couarraze, trong con người Ngô Bảo Châu nổi lên hai điều vô cùng quý giá, đó là tuổi trẻ của người học trò đam mê khoa học và sự trung thành với đất nước Việt Nam nơi đã sinh ra anh.

Ông Couarraze cho rằng Ngô Bảo Châu là “cây cầu nối” quý báu thúc đẩy hợp tác Pháp-Việt trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học, được đánh dấu bằng dự án hợp tác giữa trường Đại học Paris 11 với Đại học Khoa học và công nghệ Hà Nội.

Phát biểu tại lễ tôn vinh, Bộ trưởng Đại học và Nghiên cứu của Pháp, bà Valérie Pécresse khẳng định Ngô Bảo Châu là vị giáo sư của ba nước (Pháp, Việt Nam và Mỹ), đại diện cho ba châu lục (châu Âu, châu Á và châu Mỹ).

Bà Pécresse nhấn mạnh Giải thưởng Fields mà Ngô Bảo Châu giành được là phần thưởng cao quý đối với ngành toán học nói chung, Việt Nam nói riêng, đồng thời đem lại niềm vinh dự cho ngành toán học Pháp, đặc biệt là Đại học Paris 11. Bà Pécresse bày tỏ vui mừng trước quyết định của giáo sư Ngô Bảo Châu trong việc tạo dựng cầu nối nghiên cứu khoa học giữa ba châu lục.

Đề cập đến vinh quang của Ngô Bảo Châu, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp Lê Kinh Tài cho rằng giải thưởng Fields là niềm tự hào của ngành giáo dục, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo Việt Nam, Pháp và Mỹ đã giúp đỡ, giảng dạy và đồng hành cùng Ngô Bảo Châu trong suốt chặng đường học tập, nghiên cứu và rèn luyện của anh.

Đại sứ bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng với sự giúp đỡ của chính phủ Pháp, của các giáo sư, nhà nghiên cứu Pháp, và đồng nghiệp Việt Nam cùng quyết tâm của giáo sư Ngô Bảo Châu, sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu Việt-Pháp sẽ ngày càng “đơm hoa kết trái.” Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện để giáo sư Ngô Bảo Châu có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của ngành toán học nước nhà.

Đại sứ Lê Kinh Tài cho biết hiện có khoảng 6.000 sinh viên và gần 700 nghiên cứu sinh tiến sĩ Việt Nam đang theo học và làm các đề tài nghiên cứu tại Pháp.

Bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được có mặt tại nơi trải qua những tháng ngày học và nghiên cứu Toán, giáo sư Ngô Bảo Châu nói rằng Paris 11 chính là nơi đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời khoa học của anh.

Ôn lại kỷ niệm về người thầy đã tận tình giúp anh từ buổi chập chững ban đầu đọc hiểu từng trang tài liệu, Ngô Bảo Châu muốn chia sẻ niềm tin rằng nơi đây sẽ tiếp tục gieo mầm cho những thành công lớn về toán học trong tương lai.

Theo Vietnam+