Posts tagged giáo sư
Top 10 từ khóa Yahoo VN – GS. Ngô Bảo Châu dẫn đầu
Dec 3rd
Khác với mọi năm, người đứng đầu danh sách từ khóa tìm kiếm thường là các ngôi sao giải trí, năm nay với sự kiện GS. Ngô Bảo Châu lần đầu tiên đoạt huy chương Fields, tên ông được người dùng Internet quan tâm tìm kiếm nhất trên Yahoo Việt Nam.

GS Ngô Bảo Châu trở thành từ khóa tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo Việt Nam.
Khi lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà toán học Việt Nam được trao huy chương Fields danh tiếng (còn được coi là giải Nobel của Toán học), người Việt Nam đã như vỡ òa trong niềm tự hào và háo hức tìm hiều về vị giáo sư trẻ tuổi ít được biết đến trước đây này. GS Ngô Bảo Châu đã trở thành từ khóa được quan tâm nhất trong năm nay.
Năm 2010 cũng chứng kiến những dao động chóng mặt của giá vàng tại Việt Nam. Từ khóa phổ biến thứ 2 trên Yahoo Việt Nam là giá vàng. Đứng ở vị trí tiếp theo là giải thi đấu World cup 2010, ca sĩ Hồ Ngọc Hà, và kẻ giết người Nguyễn Đức Nghĩa…
Sự kiện được nhắc đến nhiều nhất trong năm qua tại Việt Nam là lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Mặc dù được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10, những hoạt động tại lễ kỷ niệm với đầu tư kỹ càng và hoành tráng này đã thu hút sự chú ý của người dân cả nước từ đầu năm 2010.
Không giống như những nước trong khu vực, năm nay, người dùng Internet Việt Nam không tìm kiếm các từ khóa được xem là “hot”, như iPad, iPhone và các ngôi sao quốc tế. Một cái tên nước ngoài duy nhất lọt vào danh sách này và đứng ở vị trí thứ 10 là diễn viên Hàn Quốc, Kim Hyun Joong, người đã hút hồn các cô gái trẻ qua các bộ phim truyền hình.
10 từ khóa tìm kiếm “hot” nhất năm 2010 trên Yahoo! Việt Nam:
1. Ngô Bảo Châu
2. Giá vàng
3. World cup 2010
4. Hồ Ngọc Hà
5. Nguyễn Đức Nghĩa
6. Đàm Vĩnh Hưng
7. Kim Hiền
8. 1000 năm Thăng Long Hà Nội
9. Lũ lụt miền Trung
Trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège
Nov 30th
Nội dung bài viết dưới đây xin được xem như một thí dụ chứ không phải là một kiểu mẫu giáo dục. Tất cả những chính sách, qui chế, tổ chức… đại học tùy thuộc rất nhiều yếu tố về truyền thống, lịch sử, văn hóa, nhân lực, phương tiện hiện hữu…
1. Bối cảnh của việc trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège (Bỉ)
Chúng tôi là một Đại học nhỏ, 20.000 sinh viên, một Đại học xưa gần 200 năm tuổi, đã có thời hoàng kim trong hai thế kỷ trước, nhất là với trường Kỷ sư, nhưng hiện không có trong danh sách 200 Đại học hàng đầu thế giới.
Bù lại chúng tôi có truyền thống rất mở: tôn trọng tất cả chính kiến, đảng phái và tôn giáo (có những Đại học ở Bỉ ít tự do hơn chúng tôi).
Đại học Liège nằm trong một khu rừng xanh rộng 2.000 mẫu. Cái hiền hòa và thoáng mát của khung cảnh có thể làm cho con người thoải mái và lịch sự với nhau chăng?
Hệ thống giáo dục ở Bỉ có thể tóm tắt trong ba điểm chính :
- Cưỡng bức và miễn phí hoàn toàn cho tất cả trẻ em tới năm 18 tuổi
- Hệ cao đẳng và đại học được tài trợ bởi chính phủ (từ 10.000 euros tới 15.000 euros cho mỗi sinh viên tùy theo năm và ngành học – sinh viên chỉ đóng từ 400 tới 900 euros mỗi năm).
- Giáo dục phổ thông có một khung chương trình được chính phủ đề ra, dựa theo đó các trường có quyền uyển chuyển sửa đổi áp dụng. Cấp đại học thì hoàn toàn tự do. Nhiều sinh viên chọn trường và chọn môn học trên cơ sở tiếng tăm của trường hay của giáo sư chẳng hạn (kiểu “lên núi tầm sư học đạo” của ta ngày xưa).
Ngoài những chi tiết kể trên, phải kể thêm sơ lược về bối cảnh văn hóa đại học :
- Liên hệ giữa thầy và trò không phải là một liên hệ thẳng trên – dưới, mạnh – yếu mà là một liên hệ tam giác giữa người đi học – kiến thức và người đi dạy. Ba “nhân tố” này đều quan trọng cả ba.
- Sinh viên chọn một ngành học vì nhiều lý do trong đó có sở thích cá nhân, sinh viên “đóng” một vai trò tích cực chứ không thụ động hấp thụ sự truyền đạt của thầy.
- Trong một xã hội mà càng ngày càng chuyên môn hóa – chuyên ngành chuyên nghề, đòi hỏi sự xuất sắc là cần thiết thì phải dùng mọi phương tiện để đạt được kết quả đó – “chấm điểm” thầy là một trong những phương tiện .
- Riêng tại Liège, đầu những năm 1990, Jean Thérer, một giáo sư ngành giáo dục đã đặt ra “Tuyên Ngôn Quyền của người đi học” làm nền móng cho một kiểu cách sư phạm nặng tính nhân bản.
2. Cụ thể trò ”chấm điểm” thầy thế nào?
Chiến dịch – opération - được đặt tên là “SMART Evalens” được hiểu là “hệ thống phương pháp giúp thực hiện trắc nghiệm đánh giá giáo sư” (Système Méthodologique d’Aide à la Réalisation de Tests d’Evaluation des Enseignants) nhưng chữ Smart được tất cả cộng đồng giáo dục nhớ liền, nó “khả ái” làm sao ấy !
Bảng điều tra chỉ có một tờ, theo nguyên tắc chỉ cần 10 đến 20 phút là điền xong. Thời gian này tùy theo độ dài của 3 câu trả lời mở cuối bảng điều tra.
Ba câu này hỏi ý kiến cá nhân của sinh viên về môn học, về những bài tập ứng dụng hay bài tập có hướng dẫn và về các cuộc thi của môn ấy. Ba câu trả lời này được dành cho ba khung, chiếm nửa trang giấy, tức là một phần tư diện tích của bảng điều tra – vì chúng quan trọng, thể hiện phê bình riêng tư của từng sinh viên.
Ba câu trả lời này đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức để khai thác, phân tích và đúc kết vì phải đọc bằng… sức người. Những câu “đặc sắc” hay được nhiều sinh viên viết ra sẽ được chép y nguyên lại đưa cho giáo sư liên hệ cùng với những kết quả khác.
Tất cả trên 50 câu hỏi khác (một trang rưỡi của tờ điều tra) đều được trình bày để có thể trả lời bằng cách tô đen. Như thế, máy tính đọc được và phân tích kết quả bằng chương trình tin học.
Sinh viên chỉ việc “cho điểm” từ 1 thấp nhất đến 5 – hiện nay là tới 6 – điểm cao nhất cho mỗi mục (item) – có quyền không trả lời hay có thể đánh dấu “không liên hệ”
Những câu hỏi này thuộc ba chủ đề :
. Phê bình những bài giảng của môn dạy: 16 câu hỏi đi từ chi tiết cụ thể (giờ giấc, giọng nói, dụng cụ sư phạm, giáo trình…) cho đến nội dung (có phù hợp với chủ đích của ngành, có giúp cho sinh viên học hỏi thêm, tiến bộ trong chuyên môn, có trùng hợp với các môn khác…) và dĩ nhiên, phương pháp sư phạm (có thích hợp với trình độ của sinh viên, có trả lời những khó khăn của sinh viên, có đam mê và truyền đạt cái đam mê ấy cho sinh viên…)
- Phê bình các cuộc thi : 13 câu về cách hỏi thi, cách tổ chức các cuộc thi, cách giáo sư chuẩn bị cho sinh viên học thi, những gì giáo sư chờ đợi nơi sinh viên, chỉ tiêu, “thể lệ” hay cách chấm điểm có được cho biết trước hay không, câu hỏi bài thi có bao phủ hết môn học hay không, …
- Phần thứ ba, quan trọng nhất: 22 câu về bài tập ứng dụng, tham khảo thêm có hướng dẫn hay lâm sàng (cho sinh viên Y khoa và Thú Y)
Trên bình diện sư phạm, sinh viên không thể chỉ biết lý thuyết thôi mà còn phải biết ứng dụng, biết làm, để biết xoay sở trước mọi tình huống sau này, để tự lập. Chúng tôi vẫn nói, một cách hơi quá đáng, “dạy học tức là giải phóng” (ít nhất là giải phóng cho sự kém hiểu biết) và “người có tri thức là người tự do”.
Ở đây sinh viên phán đoán tầm quan trọng mà giáo sư dành cho các bài tập thực dụng, tổ chức việc làm của các trợ tá đặc trách lo cho sinh viên, công tác điều khiển sinh viên trong quá trình tự học thêm, sự tận tụy giúp đỡ sinh viên, …
Triết lý mà nói, nếu phần ứng dụng này giáo sư làm tốt thì giáo sư rõ là người “khai tâm”, dạy cách học (apprendre à apprendre) cho sinh viên tiếp tục con đường tự học trong suốt quãng đời còn lại.
Cái đánh giá của mỗi sinh viên là chủ quan. Nhưng các mục đưa ra đều cụ thể, có thể “đong và đếm” được.
Dỉ nhiên mỗi bảng điều tra đều có phần hành chính ghi môn học, tên giáo sư dạy, phân khoa, năm học, ngày điền bảng chấm điểm nhưng tuyệt nhiên không có tên họ của sinh viên, tác giả bảng chấm điểm.
3. Sau đó ?
Phần “khổ sở” tức là công việc của phân khoa sư phạm: khai thác, phân tích và cô đọng các kết quả.
Một công việc nặng vì cả Đại học có hơn cả ngàn giáo sư, dạy ba ngàn môn. Thế nên công việc không thể tái diễn mỗi năm cho mỗi môn mà thông thường cứ khoảng 5 năm một lần cho mỗi người.
Mỗi giáo sư sẽ nhận được đúng là bảng điều tra với số điểm của mình cho từng mục. Như thế, người đứng trên bục giảng biết được phản ảnh của sinh viên, chỗ nào được, chỗ nào còn thiếu qua nhận định của học trò mình. Và nhất là các ý kiến cá nhân của các sinh viên qua các câu trả lời tự do.
Đồng thời mỗi giáo sư còn nhận được một đồ thị bảng “điểm trung bình” của tất cả các đồng nghiệp cùng một khoa hầu có thể xác định vị trí của cá nhân (trên hay dưới trung bình đó – và trên hay dưới chỗ nào, phạm vi nào) .
Vấn đề đăng các kết quả của “Smart Evalens – đánh giá giáo sư” lên trang nhà nội bộ (intranet) của Đại học đã được bàn đến cách đây mấy năm. Hiện vẫn chưa ngã ngũ.
Nguyên tắc tự do sư phạm không cho phép bất cứ ai, kể cả Viện trưởng Đại học, áp dụng một chế tài nào đối với các giáo sư - để khen thưởng hay chê bai – Thế nhưng phải nói là cộng đồng đại học ở Liège thoải mái với việc sinh viên cho điểm giáo sư. Có thể vì đại đa số ý thức được vai trò và bổn phận của mình, có thể vì tinh thần trách nhiệm của cá nhân cao.
Một “bảng điểm tốt” là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với người mang nghề “bán cháo phổi”, là một đền bù vô giá cho những giờ cặm cụi soạn giáo trình, chuẩn bị ảnh đèn chiếu (hồi xưa) hay power point (bây giờ), lên giảng đường, …
Những phê bình tiêu cực lại rất là quí giá: một người giỏi nghiên cứu (tất cả giáo sư Đại học qua bổ nhiệm đều là những chuyên gia có giá trị và đã được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận) chưa hẳn là một nhà sư phạm (vì khả năng sư phạm không phải là bẩm sinh) nên đánh giá của sinh viên giúp người đi dạy biết sở trường sở đoản của mình để làm tốt hơn.
Mà cũng có thể giáo sư bị phê bình tiêu cực chỉ vì nhu cầu của đa phần sinh viên một lớp nào đó khác đi so với thường lệ. Mà việc dạy học là một việc chung của người dạy và người học, hai người đi cùng một khúc đường với một chủ đích duy nhất: làm chủ cái hiểu biết.
Hai người đồng hành thì phải sóng bước cùng nhịp với nhau. Không để ý tới nhu cầu và nhận xét của sinh viên, chúng không học tốt thì người đi dạy thất bại. Tệ hơn nữa, không trả lời được chờ đợi của sinh viên, chúng chán nản, không tới lớp, người đi dạy sẽ giảng cho bốn bức tường của giảng đường ư ?
Nếu cần, các giáo sư có thể gọi “cầu cứu” bên bộ phận sư phạm của phân khoa. Bộ phận này làm việc trên cơ sở theo nhu cầu, không áp đặt. Cùng với giáo sư nhờ giúp, họ sẽ phân tích hoàn cảnh, vốn khả năng của sinh viên, đặc thù và đòi hỏi của môn học để hướng đến những giải pháp sư phạm có thể thích ứng.
Trong tương lai, các giáo sư Đại học sẽ phải chứng minh khả năng sư phạm bằng một chứng chỉ hay bằng cấp chuyên môn.
Nhìn chung, hai phân khoa “dị ứng” nhất, lúc đầu, đối với việc sinh viên chấm điểm giáo sư là Y khoa và Luật khoa. Vì đó là hai phân khoa bảo thủ nhiều hơn. Nhưng tình hình cũng thay đổi và chúng tôi áp dụng hình thức dân chủ này từ hơn hai mươi năm nay.
Sinh viên ở Liège xem việc cho điểm giáo sư là một việc bình thường, cũng bình thường như việc đại diện của sinh viên (qua bầu cử) họp cùng với giáo sư trong Hội đồng Quản trị Đại học hay Hội đồng phân khoa hầu giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống của Đại học hay của phân khoa.
SV Việt tại Pháp giao lưu với GS Ngô Bảo Châu
Nov 22nd
Hôm qua 20/11, nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp (UEVF) và Mạng lưới các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam (RSE) đã tổ chức lễ vinh danh, gặp mặt và giao lưu với giáo sư Ngô Bảo
Trả lời câu hỏi của đông đảo sinh viên về chìa khóa để đạt được những thành công trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình, GS Ngô Bảo Châu cho biết muốn có được những thành công, cần phải có niềm đam mê khoa học thực sự. Mỗi người cần tìm cho mình một phương pháp học và nghiên cứu phù hợp, cần phải có sự cảm nhận đối với những khám phá khoa học.
Theo GS Ngô Bảo Châu, trước hết cần phải khơi dậy niềm đam mê khoa học từ rất sớm đối với các em học sinh cấp tiểu học và coi trọng phát triển bậc tiểu học.
Trả lời về những dự án trong thời gian tới, GS Ngô Bảo Châu cho biết ông sẽ tiếp tục nghiên cứu toán học, chuẩn bị cho việc thực hiện chương trình phát triển toán học 10 năm và thành lập Viện nghiên cứu toán học cao cấp ở Việt Nam, nhằm thu hút ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài, khuyến khích những dự án hợp tác nghiên cứu giữa Việt Nam với nước ngoài và chú ý lập quỹ hỗ trợ các tài năng trẻ.
Giáo sư cũng kêu gọi các bạn học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh trở về nước làm việc sau khi đã hoàn thành chương trình học của mình.
Bà Corinne Makowski, Phó Tổng giám đốc đối ngoại của SPF, cho rằng việc GS Ngô Bảo Châu giành được giải thưởng toán học Clay cùng với GS Gérard Laumon và giải thưởng Fields 2010 khi giải quyết hoàn toàn bổ đề cơ bản, không chỉ là niềm tự hào của ngành toán học Việt Nam và Pháp, mà còn thực sự là niềm tự hào đối với thế hệ trẻ, là sự thúc đẩy tuổi trẻ hai nước say mê với công tác nghiên cứu khoa học.
Cũng trong buổi lễ, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” truyền thống của dân tộc Việt Nam, ông Hoàng Năng Thắng, Chủ tịch UEVF, thay mặt cộng đồng học sinh, sinh viên và thực tập sinh Việt Nam tại Pháp đã chúc mừng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo, các giáo sư Việt Nam và Pháp đã dìu dắt bao thế hệ học sinh, sinh viên trưởng thành.
GS Ngô Bảo Châu được tôn vinh tại Pháp
Nov 18th
Tối 16/11, lễ tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng Fields 2010 đã diễn ra trọng thể tại hội trường lớn Khoa Toán Trường đại học Paris 11, ở thành phố Orsay, ngoại ô Paris, Pháp.
Trong diễn văn khai mạc lễ tôn vinh, Chủ tịch Đại học Paris 11, ông Guy Couarraze đã khẳng định niềm tự hào của khoa Toán và Đại học Paris 11 được đón tiếp người học sinh cũ, người đã đoạt giải thưởng Clay danh giá năm 2007 cùng với giáo sư Gérard Laumon khi giải quyết hoàn toàn bổ đề cơ bản. Công trình này cũng được tạp chí Time của Mỹ xếp là 7 trong 10 khám phá khoa học nổi bật của thế giới năm 2009.
Theo ông Couarraze, trong con người Ngô Bảo Châu nổi lên hai điều vô cùng quý giá, đó là tuổi trẻ của người học trò đam mê khoa học và sự trung thành với đất nước Việt Nam nơi đã sinh ra anh.
Ông Couarraze cho rằng Ngô Bảo Châu là “cây cầu nối” quý báu thúc đẩy hợp tác Pháp-Việt trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học, được đánh dấu bằng dự án hợp tác giữa trường Đại học Paris 11 với Đại học Khoa học và công nghệ Hà Nội.
Phát biểu tại lễ tôn vinh, Bộ trưởng Đại học và Nghiên cứu của Pháp, bà Valérie Pécresse khẳng định Ngô Bảo Châu là vị giáo sư của ba nước (Pháp, Việt Nam và Mỹ), đại diện cho ba châu lục (châu Âu, châu Á và châu Mỹ).
Bà Pécresse nhấn mạnh Giải thưởng Fields mà Ngô Bảo Châu giành được là phần thưởng cao quý đối với ngành toán học nói chung, Việt Nam nói riêng, đồng thời đem lại niềm vinh dự cho ngành toán học Pháp, đặc biệt là Đại học Paris 11. Bà Pécresse bày tỏ vui mừng trước quyết định của giáo sư Ngô Bảo Châu trong việc tạo dựng cầu nối nghiên cứu khoa học giữa ba châu lục.
Đề cập đến vinh quang của Ngô Bảo Châu, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp Lê Kinh Tài cho rằng giải thưởng Fields là niềm tự hào của ngành giáo dục, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo Việt Nam, Pháp và Mỹ đã giúp đỡ, giảng dạy và đồng hành cùng Ngô Bảo Châu trong suốt chặng đường học tập, nghiên cứu và rèn luyện của anh.
Đại sứ bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng với sự giúp đỡ của chính phủ Pháp, của các giáo sư, nhà nghiên cứu Pháp, và đồng nghiệp Việt Nam cùng quyết tâm của giáo sư Ngô Bảo Châu, sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu Việt-Pháp sẽ ngày càng “đơm hoa kết trái.” Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện để giáo sư Ngô Bảo Châu có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của ngành toán học nước nhà.
Đại sứ Lê Kinh Tài cho biết hiện có khoảng 6.000 sinh viên và gần 700 nghiên cứu sinh tiến sĩ Việt Nam đang theo học và làm các đề tài nghiên cứu tại Pháp.
Bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được có mặt tại nơi trải qua những tháng ngày học và nghiên cứu Toán, giáo sư Ngô Bảo Châu nói rằng Paris 11 chính là nơi đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời khoa học của anh.
Ôn lại kỷ niệm về người thầy đã tận tình giúp anh từ buổi chập chững ban đầu đọc hiểu từng trang tài liệu, Ngô Bảo Châu muốn chia sẻ niềm tin rằng nơi đây sẽ tiếp tục gieo mầm cho những thành công lớn về toán học trong tương lai.
Giảng viên tự “choáng” với thu nhập của mình
Sep 29th
Sau khi đăng bài viết “Choáng với thu nhập giảng viên Đại học”, PV đã nhận được rất nhiều phản hồi từ chính các giảng viên của Đại học Ngoại thương Hà Nội. Không thắc mắc đến những khoản thu ngoài trường (từ việc làm thêm, tư vấn các dự án, …), những giảng viên này cho biết họ “choáng” vì con số thu nhập trung bình/tháng của mỗi giảng viên mà lãnh đạo nhà trường báo cáo Bộ Giáo dục – Đào tạo và đăng công khai trên website của trường. Theo họ, con số trung bình thu nhập 9 triệu đồng/tháng/người hoàn toàn không chính xác.
Trên bảo đúng, dưới khẳng định là sai
Theo báo cáo 174/DHNT-KHTC (do Hiệu trưởng nhà trường – GS,TS Hoàng Văn Châu – ký và đóng dấu ngày 10/05/2010) thì mức thu nhập bình quân của một giảng viên trường ĐH Ngoại thương năm 2009 là 9 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, thu nhập bình quân năm 2009 của cán bộ quản lý trường này là 7,2 triệu/tháng.
Dự kiến mức thu nhập bình quân này trong năm 2010 sẽ tiếp tục được tăng lên, cụ thể là: Đối với giảng viên: trung bình thu nhập là 10 triệu/tháng; đối với cán bộ quản lý: trung bình thu nhập là 8 triệu/tháng.
Báo cáo công khai về thu nhập giảng viên, cán bộ quản lý là một trong những nội dung công khai thu chi tài chính mà Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường bắt buộc thực hiện.
Báo cáo này được công khai trên website chính thức của trường Đại học Ngoại thương nhưng ít được cán bộ, giảng viên chú ý. Cho đến khi bài viết “Choáng với thu nhập giảng viên đại học” được đăng trên VietNamNet, nhiều cán bộ, giảng viên khá bất ngờ với những thông tin này và xuất hiện nhiều ý kiến đa chiều xung quanh các vấn đề được bài báo đề cập.
Riêng với thông tin về mức thu nhập trung bình 9 triệu/tháng/người, nhiều giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ bày tỏ sự thắc mắc, ngạc nhiên về con số mà báo cáo đã đề cập vì khi so sánh với mức thu nhập hiện tại, con số này thực sự là “niềm mơ ước”. Theo các giảng viên, con số trung bình mà nhà trường báo cáo với Bộ GD-ĐT hoàn toàn không trùng khớp với thu nhập thực tế của họ.
Một số giảng viên lâu năm, có học vị, học hàm cao cũng băn khoăn vì sau nhiều năm cống hiến, mức thu nhập của họ mới đạt mức này hoặc vượt mức này, trong khi đó số giảng viên trẻ và có thu nhập 4-5 triệu đồng/tháng của trường chiếm tỷ lệ đáng kể (như vậy phải có người cao vượt hẳn lên, nhưng có đủ bù lại cho nhiều người thấp hơn hay không thì lại là việc khác).
Khi giải thích về điều này, TS Đào Thị Thu Giang, Phó hiệu trưởng trường ĐH Ngoại thương Hà Nội khẳng định: “Con số đó là hoàn toàn chính xác và đúng thực tế”.
Tính toán thế nào?
Để chứng minh con số thu nhập trung bình 9 triệu/tháng/giảng viên là không chính xác, các giảng viên của trường ĐH Ngoại thương cho biết thu nhập của họ có từ các nguồn sau:
Lương theo hệ số nhà nước (trường nào cũng bằng trường nào), có thêm phụ cấp thâm niên, phụ cấp chức vụ nhưng không đáng là bao.
Lương từ nhà trường (tùy từng trường): Khoảng gấp 1,5 lần lương nhà nước trả.
Tiền giảng vượt giờ: Cao nhất khoảng 30 triệu/năm (nhưng theo phản ánh của giảng viên thì đạt được số tiền vượt giờ này phải đi dạy với một mật độ “khủng” và thường không thể duy trì trong thời gian dài được). Trung bình mỗi giảng viên có tiền vượt giờ 10 triệu/năm.
Ngoài ra có tiền nghiên cứu khoa học nhưng tiền này không phải giảng viên nào cũng có vì phải từ Thạc sỹ trở lên mới có cơ hội nhận đề tài, thậm chí bây giờ phải là TS, GS, PGS mới được làm chủ nhiệm đề tài. Nếu chỉ tham gia nghiên cứu cùng thì khoản tiền này không đáng là bao.
Cuối cùng là tiền Tết (khoảng 1 triệu) và tiền hè (khoảng 800 ngàn).
Tính tổng cộng lại rồi chia trung bình ra thì thu nhập hàng tháng từ trường của giảng viên có bằng TS, thâm niên 15 năm (thời gian công tác mà theo nhà trường là ở mức trung bình) là khoảng 7,5 triệu, nếu có chức danh PGS, chức vụ từ Trưởng phòng trở lên là khoảng 9 triệu đồng.
Như vậy, nếu tính thời gian tăng lương trung bình là 3 năm/lần thì cho đến khi về hưu, một giảng viên có bằng TS và chức danh PGS thì thu nhập cũng chỉ đạt tối đa 11 triệu/tháng.
Nếu lấy thu nhập của người cao nhất cộng với người thấp nhất để chia trung bình thì không thể ra con số 9 triệu/tháng (bởi như vậy có nghĩa người có thu nhập thấp nhất là 7 triệu/tháng. Con số này lại càng không chính xác). Hơn nữa, cái cách tính lấy của người cao nhất cộng với người thấp nhất rồi chia đôi là không khoa học và kết quả không phản ánh đúng thực tế. Đó là chưa kể đến việc số người có thu nhập cao trong trường ít hơn hẳn người thu nhập thấp.
Trong khi đó, TS Đào Thị Thu Giang lại cho biết: “Cách tính để đưa ra con số thu nhập trung bình 9 triệu đồng/tháng của giảng viên là dựa trên tổng tất cả các khoản chi cho giảng viên chia cho số giảng viên có mặt bình quân/năm (không kể người đi nước ngoài, giảng viên thử việc). Thu nhập này bao gồm tất cả các khoản: lương, tiền lên lớp, trông thi chấm thi, nghiên cứu khoa học, và các khoản thu khác (kể cả tiền đi họp, dự hội thảo)….”
Nếu tính theo cách này, thì có những khoản cần dùng để đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường, giảng viên không được nhận nhưng vẫn được tính là thu nhập của giảng viên (?!) Mặt khác, trong báo cáo nhà trường không hề cho biết, đây là thu nhập trước thuế hay sau thuế.
Như vậy, đã có sự khác biệt về cách hiểu mức thu nhập trên báo cáo của nhà trường và cách hiểu của giảng viên. Nhà trường đã tính toán căn cứ vào tổng số tiền chi cho giảng viên (kể cả những khoản giảng viên không được nhận) và cũng không trừ thuế thu nhập. Ngược lại, giảng viên chỉ tính theo số thu nhập thực tế đến tay họ.
Sẽ chỉ giải thích nội bộ
Vấn đề đặt ra là: tại sao các giảng viên trong trường lại có ý kiến khác nhau, thậm chí một số có phần khá gay gắt, nếu con số đó hoàn toàn đúng trong thực tế?
Giải thích về điều này, TS Đào Thị Thu Giang khẳng định: “Thông tin đó đã được lãnh đạo các phòng ban kiểm tra trước rồi mới báo cáo lên Bộ”. Tuy nhiên, bà Giang cho biết có điểm cần lưu ý là báo cáo không nêu rõ con số này đã loại trừ các giảng viên đang trong giai đoạn thử việc một năm (?!) nên có thể gây thắc mắc trong số các bạn trẻ.
Hơn nữa, cán bộ giảng viên thường chỉ chú ý tới khoản lương (gồm lương cơ bản và lương tăng thêm của nhà trường) chứ ít khi tính cả các khoản thu nhập không thường xuyên khác do đó có thể nảy sinh ý kiến khác nhau. Bà Giang nhấn mạnh: “Với những ai thấy báo cáo này có vấn đề khúc mắc, nhà trường sẵn sàng giải thích tới từng người, bởi không có vấn đề gì ở đây cả, con số đó là hoàn toàn chính xác.”
han
TS Đào Thị Thu Giang cũng bày tỏ quan điểm: “Mức thu nhập này (9 triệu) vẫn quá ít ỏi so với những gì các giảng viên phải đầu tư để trau dồi kiến thức và so với với khối lượng công việc họ đang làm.”
ĐH Chicago “hấp dẫn” GS Ngô Bảo Châu
Sep 24th
Theo kết quả tổ chức xếp hạng các trường ĐH danh tiếng thế giới QS vừa công bố, trường ĐH Chicago đứng thứ 4 trong các trường ĐH ở Mỹ. Trong ngành toán học, đặc biệt về lý thuyết đại số mà GS Ngô Bảo Châu đang theo đuổi thì ĐH Chicago được đánh giá đứng hàng đầu thế giới.
Trường ĐH hàng đầu thế giới
Trường Đại học Chicago là một trường đại học tư nằm ở khu vực phố Hyde Park của Chicago, Illinois, được thành lập bởi Hội Giáo dục Baptist Mỹ và nhà tỷ phú dầu mỏ John D. Rockefeller năm 1890.
Trường Đại học Chicago tổ chức lớp học đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1892 và là một trong những trường đại học đầu tiên của Mỹ kết hợp giữa cao đẳng nghệ thuật tự do đa ngành Mỹ và đại học nghiên cứu của Đức.
Trường Đại học Chicago nổi tiếng có các phong trào học thuật gây ảnh hưởng như trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, trường phái phê bình văn học Chicago và phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý.
Trường Đại học Chicago cũng là nơi thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo tự lực đầu tiên của thế giới và cũng có báo chí đại học lớn nhất Hoa Kỳ.
Cơ sở chính của Đại học Chicago rộng đến 211 mẫu Anh trong khu phố Chicago của Hyde Park và Woodlawn, cách 7 dặm (11 km) về phía nam trung tâm thành phố Chicago. Phần phía bắc và phía nam của khuôn viên được ngăn cách bởi một công viên lớn Plaisance Midway được xây dựng vào năm 1893 .
Các tòa nhà đầu tiên của Đại học Chicago nằm trong khuôn viên trường tạo nên những khu vực sân rộng phía trong. Các tòa nhà được thiết kế theo kiến trúc Gothic, giống với khuôn mẫu của trường Đại học Oxford. Sau những năm 1940, kiểu kiến trúc Gothic trong khuôn viên trường đã được thay thay thế dần bằng phong cách hiện đại.
Các cơ sở học thuật của Đại học Chicago bao gồm các trường cao đẳng, 4 cơ sở nghiên cứu sau đại học, 6 trường chuyên nghiệp, hệ thống trường trung học…
Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã dành 12 năm để dạy luật hiến pháp tại Trường Luật của ĐH Chicago, 4 năm đầu (1992-1996) ông là giảng viên, 8 năm sau (1996-2004) là giảng viên trưởng.
Ở ĐH Chicago, năm học được chia thành bốn học kỳ: học kỳ mùa hè (tháng sáu đến tháng tám), học kỳ mùa thu (tháng chín đến tháng mười hai), học kỳ mùa đông (tháng một đến tháng ba) và học kỳ mùa xuân (tháng tư đến tháng sáu). Năm học thường bắt đầu vào cuối tháng chín và kết thúc vào giữa tháng sáu. Học kỳ mùa xuân năm 2009, ĐH Chicago có 14.000 học sinh, sinh viên ở các chương trình. Sinh viên quốc tế chiếm khoảng 18% tổng số học sinh, sinh viên, ít nhất 23% học sinh dân tộc thiểu số trong nước đã được học tập tại đây, và 45% là nữ. Những sinh viên học tại ĐH Chicago được ở trong một khu ký túc xá. Hiện có 36 nhà, với trung bình 70 sinh viên trong mỗi nhà. Khoảng 60% sinh viên đại học sống trong trong các ký túc xá trong khuôn viên trường.
Hệ thống thư viện của ĐH Chicago bao gồm 6 thư viện thành phần, có chứa tổng cộng 8,5 triệu cuốn sách về khoa học sinh học, y tế, vật lý, triết học, lịch sử y học, và công nghệ… Thư viện này đứng thứ 12 trong số các thư viện ở Hoa Kỳ. Thư viện lớn nhất của trường là thư viện Regenstein. Việc mở rộng của thư viện dự kiến hoàn thành vào năm 2010.
Khoa học cơ bản được ưu tiên
Theo số liệu đã công bố, năm 2006, ĐHChicago đã dành hơn 305 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. ĐH Chicago cũng giám sát hoạt động của 12 viện nghiên cứu và 113 trung tâm nghiên cứu trong trường. Trong số này có Viện phương Đông (bao gồm một bảo tàng và trung tâm nghiên cứu khu vực phía Đông) do ĐH Chicago sở hữu và điều hành. Ngoài ra trường cũng sở hữu một số Trung tâm nguồn lực quốc gia.
Đã có 85 người đoạt giải Nobel đã từng có mối quan hệ trực tiếp với Đại học Chicago, 17 người trong số họ đã nghiên cứu hoặc trực tiếp giảng dạy tại ĐH Chicago khi họ nhận được giải Nobel.
Khoa toán cùng với ĐH Chicago bắt đầu đi vào hoạt động từ 10/1892. Vị trưởng khoa đầu tiên là ông Eliakim hastings Moore – ông cũng là giáo sư liên kết với ĐH Northwestern. Ông Moore đã ngay lập tức bổ nhiệm Oskar Bolza và Heinrich Maschke vào làm việc cùng mình và ba người họ đã trở thành những hạt nhân cơ bản của khoa toán trong suốt thời kỳ 1892- 1908.
Suốt giai đoạn từ 1892 đến 1908 ĐH Chicago không phải là nơi hấp dẫn đối với việc học cao hơn về toán học.
Từ năm 1892 đến năm 1910, chỉ có 39 sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ toán học tại Đại học Chicago. Từ 1910 đến 1927 việc đào tạo toán học được phát triển mạnh mẽ hơn, trong giai đoạn này có 115 bằng tiến sỹ toán học được cấp. Cuối thời kỳ này, ĐH Chicago trở thành nơi đào tạo chủ yếu những tiến sỹ toán học ở Mỹ.
Một trong những dự án đầu tiên được tiến hành bởi khoa toán là hợp tác với tổ chức World Fair tổ chức đại hội quốc tế các nhà toán học tại Chicago vào năm 1893. Thành công của dự án này đã cho thấy rằng ĐH Chicago và khoa toán có đủ năng lực trở thành cơ sở tổ chức thường xuyên của đại hội các nhà toán học thế giới. Việc công bố thông tin về đại hội được diễn ra dưới sự giúp đỡ của Hiệp hội Toán học New York, và ngay sau đó, với sự cổ vũ mạnh mẽ của Moore, hiệp hội này sau này đã đổi tên thành Hiệp hội Toán học Hoa Kỳ.
Từ 1/9/2010, GS Ngô Bảo Châu chính thức giảng dạy tại khoa toán ĐH Chicago. GS Ngô Bảo Châu từng cho biết anh quyết định giảng dạy tại ĐH Chicago cũng là vì có cơ hội được làm việc chặt chẽ hơn nữa với các đồng nghiệp tại Trường ĐH Chicago. Những đồng nghiệp mà GS Ngô Bảo Châu thường nhắc tới là các GS danh tiếng như Alexander Beilinson, Vladimir Drinfeld, Kazuya Kato…
Ông Robert Zimmer, giáo sư toán học và Chủ tịch ĐH Chicago nói: “Chúng tôi chúc mừng Giáo sư Ngô về Giải thưởng Fields mà ông hoàn toàn xứng đáng. Chúng tôi mong tới lúc đón ông về làm nhân viên mới của khoa toán, khoa có lịch sử lâu dài và uy tín.”
Còn Trưởng khoa Toán, giáo sư Peter Constantin bày tỏ, ông Ngô Bảo Châu đã chứng tỏ được khả năng toán học lớn khi trong năm ngoái ông chứng minh thành công một bổ đề toán mà 30 năm không nhà toán học nào có thể chứng minh được. Giáo sư Constantin thì nói: “Đó là vấn đề toán học thuần túy nhưng nó có liên quan tới cuộc sống bao gồm cả lĩnh vực vật lý năng lượng cao, khoa học máy tính và mật mã.”
Theo thông tin từ Đại học Chicagocác giảng viên đã và đang giảng dạy tại trường đoạt 7 giải Fields trong tổng số 48 giải được trao từ trước tới nay.
GS. Ngô Bảo Châu sẽ lập hat-trick ‘Nobel Toán học’?
Sep 13th
Do không có giải Nobel cho các nhà Toán học nên bộ 3 giải Wolf Prize, Abel Prize và Fields Medal đều được xem là giải “Nobel Toán học”.
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Bích Ngọc |
GS. Ngô Bảo Châu của Việt Nam sau khi chinh phục giải thưởng Fields Medal, hoàn toàn có thể tiếp tục đạt được 2 giải thưởng còn lại.
1. Giải Wolf cho Toán học
Wolf Prize là một bộ giải thưởng được trao bởi Quỹ Wolf (Wolf Foundation), bắt đầu từ năm 1978 cho các nhà khoa học và các nghệ sĩ. Giải Wolf hầu hết được trao hàng năm, hoặc đôi khi 2 năm một lần, dành cho 6 hạng mục: Nông nghiệp, Hóa học, Toán học, Y học, Vật lý và Nghệ thuật. Giải Wolf cho Nghệ thuật được xoay vòng giữa 4 lĩnh vực: kiến trúc, âm nhạc, hội họa và điêu khắc. Người được trao giải Wolf sẽ nhận được bằng chứng nhận và khoản tiền lên đến 100.000 USD.
Quỹ Wolf được thành lập từ năm 1976, với tổng ngân quỹ ban đầu là 10 triệu USD được tài trợ bởi gia đình Wolf. Người sáng lập quỹ này là Tiến sĩ Ricardo Wolf và vợ ông, bà Francisca.
Ricardo Wolf (1887-1981) có tên đầy đủ là Ricardo Subirana y Lobo Wolf. Ricardo Wolf sở hữu 3 quốc tịch Đức, Israel và Cuba. Ông sinh tại thành phố Hanover, Đức trong gia đình có 14 người con. Bố ông là Moritz Wolf, một lãnh tụ của cộng đồng Do Thái di cư sang Đức.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Ricardo Wolf chuyển tới sinh sống ở Cuba, nơi trở thành quê hương thứ 2 của ông. Wolf là một nhà đầu tư và một nhà ngoại giao có tiếng. Năm 1924, ông kết hôn với nhà vô địch tennis những năm 1920 Francisca Subirana. Wolf là người ủng hộ Fidel Castro trong cuộc Cách mạng Cuba và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Cuba tại Israel từ năm 1961.
Các giải Wolf đều là những giải thưởng danh giá hàng đầu trong mỗi lĩnh vực xét giải. Giải Wolf trong Vật lý và Hóa học đều chỉ kém danh tiếng so với giải Nobel. Trong Y học, đó là giải thưởng uy tín thứ 3, sau giải Nobel và giải Lasker. Trong Nông nghiệp, nó được xem là giải “Nobel Nông nghiệp”.
Trong khi đó, ở lĩnh vực Toán học, giải Wolf và giải Fields đều được xem như giải “Nobel Toán học”, giải Fields uy tín hơn nhưng giải Wolf lại giống với giải Nobel hơn về mặt thể thức: Được trao hàng năm và không giới hạn tuổi của người chiến thắng.
Năm 2002, khi giải Abel ra đời thì giải Wolf, giải Fields và giải Abel được xem là bộ ba “Nobel Toán học”, trong đó mỗi giải có một ưu thế riêng trội hơn 2 giải còn lại.
Những nhà Toán học đầu tiên được trao giải Wolf là Israel Gelfand (Liên Xô) và Carl L. Siegel (Đức) vào năm 1978. Mỗi năm, Quỹ Wolf thường trao giải cho 2 người ở lĩnh vực Toán học (riêng năm 1994/5 chỉ có một mình Jürgen Moser được trao giải, năm 2008 có 3 người: Pierre Deligne, Phillip A. Griffiths và David B. Mumford). Trong một số năm, Quỹ Wolf không trao giải cho Toán học, gần đây là các năm 1998, 2004, 2009.
![]() |
| Dennis P. Sullivan (trái) và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010. |
Đáng chú ý là có tới 12 nhà Toán học đoạt giải Wolf cũng từng nhận Huy chương Fields, giải thưởng mà GS Ngô Bảo Châu vừa nhận được tại Ấn Độ. 12 người đó là: Grigory Margulis (Nga), Sergei Novikov (Nga), Stephen Smale (Mỹ), Pierre Deligne (Bỉ), Jean-Pierre Serre (Pháp), Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ), Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Atle Selberg (Na Uy), Lars Ahlfors (Phần Lan), Shing-Tung Yau (Mỹ, Trung Quốc), David Mumford (Anh).
2. Giải Abel
Giải Abel (Abel Prize) là giải thưởng thường niên được nhà vua Na Uy trao cho một hoặc một vài nhà Toán học. Tên gọi của giải thưởng này được đặt theo tên của nhà Toán học Na Uy Niels Henrik Abel (1802-1829) – một thiên tài bạc mệnh, người qua đời ở tuổi 27 vì bệnh lao.
Giải Abel được công bố vào năm 2001 và bắt đầu được trao từ năm 2003 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thiên tài Abel. Mục đích của giải Abel khi ra đời là để khỏa lấp sự thiếu vắng của giải Nobel trong Toán học. Dù giải Fields trước đó đã được xem là tương đương với “Nobel Toán học”, nhưng chỉ được trao 4 năm một lần (giải Nobel được trao hàng năm) và với số tiền thưởng chỉ bằng 1% so với giải Nobel. Từ khi ra đời, giải Abel cũng được xem như giải “Nobel cho các nhà Toán học” (Mathematician’s Nobel).
Abel Prize cùng với Wolf Prize và Fields Medal hợp thành bộ ba giải thưởng danh giá nhất mà các nhà Toán học có thể đạt được. Giống như giải Nobel và giải Wolf, giải Abel không giới hạn độ tuổi của người đoạt giải. Ngoài ra, khoản tiền thưởng cho người nhận giải Abel cũng rất lớn, lên đến 6 triệu krone (tiền Na Uy). Ở thời điểm trao giải Abel năm 2010, khoản tiền này tương đương 740.000 euro hay 992.000 USD, không kém nhiều so với giải Nobel (khoảng 1,4 triệu USD).
Mục đích của giải Abel là để phổ biến Toán học và làm cho nhiều người yêu Toán học, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Theo điều lệ, hàng năm Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy công bố chủ nhân giải Abel sau cuộc tuyển chọn do một hội đồng gồm 5 nhà Toán học quốc tế tiến hành. Người đứng đầu hội đồng từ năm 2006 là Kristian Seip – nhà Toán học Na Uy và là cựu Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy. Ngân quỹ ban đầu để trao giải do chính phủ Na Uy cấp vào năm 2001 là 200 triệu krone (khoảng 23 triệu USD).
Lẽ ra, giải Abel phải được trao trước đó cả trăm năm. Năm 1897, nhà Toán học Na Uy Sophus Lie (1842-1899) là người đầu tiên đề xướng việc thành lập một giải thưởng tương đương với giải Nobel cho các nhà Toán học. Ở thời điểm đó, Na Uy và Thụy Điển vẫn còn nằm trong một liên bang và nhà vua Oscar II đã đồng ý tài trợ cho giải thưởng này. Năm 1902, ý tưởng thành lập giải thưởng mang tên Abel đã được đưa ra nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Thậm chí, các nhà Toán học Ludwig Sylow và Carl Størmer đã phác thảo những quy chế và luật lệ cho giải. Tuy nhiên sự tan rã của liên bang Thụy Điển – Na Uy năm 1905 đã kết thúc cố gắng đầu tiên để thành lập giải thưởng Abel.
Phải mất gần 100 năm sau, giải thưởng Abel mới chính thức ra đời vào tháng 5/2010. Tới tháng 8/2001, chính phủ Na Uy tuyên bố giải thưởng Abel đầu tiên sẽ được trao vào năm 2002 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh Abel. Tới tháng 4/2003, nhà Toán học Pháp Jean-Pierre Serre được công bố là người đầu tiên nhận giải Abel.
Tính đến nay, sau 8 năm giải Abel được vận hành, đã có 10 nhà Toán học được trao giải, trong đó có 5 nhà Toán học Mỹ và 3 người Pháp.
Ngoài ra, Na Uy còn giới thiệu bộ sách giới thiệu về các nhà Toán học đoạt giải Abel và công trình của họ, được phát hành 5 năm một lần. Cuốn sách đầu tiên giới thiệu các nhà Toán học đoạt giải trong 5 năm đầu (2003-2007) xuất bản vào năm 2007.
![]() |
| 2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học” |
Trong số 10 nhà Toán học đoạt giải Abel, đã có 3 người trước đó từng đoạt Huy chương Fields (Jean-Pierre Serre – 2003, Michael F. Atiyah – 2004, John G. Thompson – 2008) và 7 người từng nhận giải Wolf (Jean-Pierre Serre, Peter D. Lax, Lennart Carleson, John G. Thompson, Jacques Tits, Mikhail Gromov, John Tate).
Như vậy, cho đến hiện tại chỉ có 2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”.
- Theo VTC
Ngô Bảo Châu được vinh danh ‘Công dân thủ đô ưu tú’
Sep 6th
Chiều 4/9, nhận danh hiệu Công dân thủ đô ưu tú năm 2010, giáo sư Ngô Bảo Châu chia sẻ, là người Hà Nội, dù đi nơi đâu, trái tim của ông cũng luôn hướng về thủ đô.
Theo Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, sự kiện giáo sư Ngô Bảo Châu được giành giải thưởng Fields cùng thời điểm Hoàng thành Thăng Long được Tổ chức UNESCO công nhận Di sản văn hóa Thế giới, đặc biệt có ý nghĩa khi thủ đô và cả nước đang chuẩn bị Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Tại buổi trao tặng, giáo sư Ngô Bảo Châu bày tỏ, ông rất vinh dự được nhận danh hiệu Công dân ưu tú của thủ đô. Là người Hà Nội, dù đi nơi đâu, trái tim của ông cũng luôn hướng về thủ đô, với mong muốn Hà Nội ngày càng đẹp, xanh hơn và giàu mạnh hơn.
Năm 2010, lần đầu tiên Hà Nội vinh danh 11 Công dân thủ đô ưu tú. Trong danh sách năm nay còn có giáo sư Vũ Khiêu, giáo sư Phan Huy Lê, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, chị Trần Mai Anh (mẹ nuôi bé Thiện Nhân)…
GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội, là con duy nhất của GS TSKH Ngô Huy Cẩn, chuyên gia hàng đầu về cơ học và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền. Anh từng học tại trường thực nghiệm Giảng Võ, chuyên toán của THCS Trưng Vương trước khi vào khối chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội).
Năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam. Năm 2007, sau khi chứng minh được “Bổ đề cơ bản”, một giả thuyết then chốt của Chương trình Langlands, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach của Đức, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.
Ngày 19/8/2010, giáo sư Ngô Bảo Châu là một trong 4 người được trao giải thưởng Fields – giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới và trở thành nhà Toán học đầu tiên của Việt Nam giảnh được giải thưởng này.
Theo:vnexpress
GS Ngô Bảo Châu không lấy tên mình đặt tên quỹ khuyến học
Sep 3rd
Chiều ngày 3/9, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi giới thiệu sự ra đời quỹ khuyến học mang tên: Vì tinh thần hiếu học – Theo sáng kiến của GS Ngô Bảo Châu. Hiện tại, chưa có thông tin cuối cùng về số tiền của quỹ, ngoại trừ số tiền được giải thưởng Fields của GS được đóng góp hết cho quỹ là 15.000 đô la Canada. Những người nằm trong ban sáng lập quỹ chưa được thông qua chính thức.
Điều đặc biệt ở quỹ học bổng “Vì tinh thần hiếu học” là không định làm cái gì to lớn trước, mà làm thật tốt những việc nhỏ, trao đúng tiền cho những người đang thực sự cần đến nó cũng như các học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, quỹ không tài trợ cho các bạn sinh viên ra nước ngoài học tập được vì hiện tại chưa đủ khả năng tài chính.
GS Ngô Huy Cẩn, bố của GS Ngô Bảo Châu là Giám đốc điều hành quỹ, GS Hà Huy Khoái là Chủ tịch Hội đồng khoa học của quỹ. GS Bành Tiến Long, Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước là đại diện bảo trợ cho quỹ.
GS Ngô Bảo Châu cho biết: “Chúng tôi làm quỹ này vì đây là một thời điểm rất hiếm hoi, khi huy chương Fields được trao cho một công dân Việt Nam và rộng hơn là một công dân của một nước đang phát triển. Vì vậy, nó có thể là sự cổ vũ rất lớn cho thế hệ trẻ.
Quỹ tuyệt đối không có mục đích quảng bá tên tuổi cho người thành lập cũng như các tổ chức và cá nhân tham gia ủng hộ, mà chỉ có mục đích duy nhất là khuyến học và vận động ủng hộ cho công tác khuyến học. Những người cộng tác với quỹ hoàn toàn làm việc trên cơ sở thiện nguyện. Hoạt động của quỹ được đặt trên cơ sở hoàn toàn công khai, minh bạch, có kiểm toán độc lập hàng năm”.
Nếu như các thủ tục thành lập được nhanh chóng thì dự kiến, đến tháng 12/2010, quỹ sẽ bắt đầu trao học bổng đầu tiên cho các bạn học sinh, sinh viên.
Bước đầu, quỹ sẽ tài trợ cho hai đối tượng: Học sinh thi đại học điểm cao, các sinh viên có kết quả xuất sắc nhưng hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đối với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” và tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn” được coi trọng như nhau.
Đối tượng thứ hai là sinh viên, nghiên cứu sinh trong nước. Với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” được ưu tiên hơn tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn”. GS Châu có nhấn mạnh thêm là học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách cũng thuộc diện được xét nhận tài trợ tài chính.
Người nhận học bổng có trách nhiệm báo cáo kết quả học tập từng kỳ học cho quỹ.
Ngoài việc tặng học bổng, quỹ sẽ có trách nhiệm tìm một giảng viên đại học làm người đỡ đầu cho sinh viên được nhận học bổng. GS Ngô Bảo Châu cho biết, đây là một nét khác biệt nhiều so với những quỹ khuyến học khác và cũng giống như ở một số nước phát triển.
Người đỡ đầu có vai trò tư vấn cho sinh viên học hành một cách tốt nhất, gợi mở hướng đi trong học tập của sinh viên. Sự hướng dẫn và khuyến khích của người đỡ đầu cũng quan trọng không kém phần vật chất. Quỹ sẽ có hỗ trợ tài chính cho người đỡ đầu. Trong khả năng của mình, quỹ sẽ tài trợ kinh phí và hỗ trợ một số hoạt động nghiên cứu khoa học của người đỡ đầu.
Người đỡ đầu, có trách nhiệm hướng dẫn định hướng cho sinh viên, xác nhận báo cáo kết quả học tập của sinh viên và đưa ra nhận xét làm cơ sở cho việc tiếp tục cấp học bổng cho năm tiếp theo.
Quỹ cũng chấp nhận đóng góp hiện vật làm phần thưởng cuối năm cho các sinh viên nhận tài trợ của quỹ và có kết quả học tập xuất sắc.
Về đối tượng nhận bảo trợ: Hội đồng khoa học của quỹ sẽ hoạt động độc lập, có thẩm quyền duy nhất và tuyệt đối trong việc lựa chọn đối tượng được trao học bổng cũng như lựa chọn người đỡ đầu cho sinh viên nhận học bổng.
Quỹ bao gồm Hội đồng quản lý quỹ, Hội đồng khoa học, Giám đốc điều hành quỹ và các bộ phận chuyên môn.
Giám đốc điều hành có trách nhiệm điều hành chung các hoạt động thường xuyên của quỹ. Giám đốc điều hành do Chủ tịch quỹ đề xuất và được Hội đồng quản lý quỹ chấp nhận.
Danh sách Hội đồng khoa học do Chủ tịch hội đồng khoa học và Giám đốc điều hành đề xuất và được Hội đồng quản trị chấp nhận.
Thành viên Hội đồng khoa học không nhận thù lao từ quỹ, nhưng được cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học, trong khả năng tài chính của quỹ.
Hội đồng quản lý quỹ bao gồm thành viên đại diện cho các nhà tài trợ chủ chốt và thành viên cho Chủ tịch quỹ quy định.
Hội đồng quản lý quỹ quy định mức học bổng phát cho sinh viên, mức kinh phí hỗ trợ hoạt động khoa học cho những người đỡ đầu sinh viên nhận học bổng.
Hội đồng quản lý quỹ đưa ra kế hoạch vận động tài trợ cho quỹ.
Về hoạt động thường niên: Hàng năm sẽ có ba sự kiện chính:
Thông báo rộng rãi về quy chế cấp học bổng của quỹ, thời hạn nộp và xét hồ sơ.
Công bố kết quả tuyển chọn.
Tổ chức một buổi liên hoan chung vào cuối mỗi năm học, với sự tham gia của các nhà tài trợ, các thành viên hội đồng khoa học, các sinh viên nhận học bổng và người đỡ đầu. Đây là dịp để quỹ khen thưởng các sinh viên có kết quả xuất sắc và bày tỏ sự trân trọng đối với các nhà tài trợ, thành viên hội đồng khoa học và người nhận đỡ đầu cho sinh viên. Đây cũng là dịp kêu gọi đóng góp vào quỹ cho năm theo.
GS Ngô Bảo Châu: không phải chúng tôi đòi ưu tiên hơn
Sep 3rd
- GS Ngô Bảo Châu nói cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ.
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Hương Giang |
Trong buổi gặp gỡ với báo chí sáng nay, cùng các đồng nghiệp làm toán ở Hội Toán học, Viện Toán học Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ câu chuyện về Viện Nghiên cứu cấp cao về toán đang trong lộ trình hình thành, sau khi Chính phủ ban hành chương trình trọng điểm quốc gia về toán học.
Mở đầu buổi gặp, GS Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học giải thích ngay, chương trình trọng điểm này do Bộ GD-ĐT chỉ đạo, không phải chương trình của Viện Toán học.
Thưa GS, viện nghiên cứu cấp cao về toán thuộc sự vận hành của Bộ GD-ĐT thì có thuận lợi và khó khăn gì?
GS Ngô Bảo Châu: Theo tôi hiểu, viện đó có quy chế đặc biệt, độc lập với Bộ GD – ĐT, biên chế sẽ rất ít. Bộ có lẽ chỉ quản về chính sách chung, còn điều hành do ban lãnh đạo của viện.
Khi nhìn vào nhà toán học, cứ tưởng nhà toán học ngồi trong phòng làm việc một mình, cái đó rất quan trọng.
Nhưng động lực chính cho phát triển khoa học, cũng như toán học nói riêng, chính là sự kết hợp với nhau, thậm chí toán học có thể kết hợp với vật lý, khoa học máy tính, sinh học, kinh tế. Một trong những tư tưởng then chốt là sự kết hợp các nhà khoa học có khả năng, điểm trội khác nhau.
Các ngành khác nhau đã đành, các nhà toán học làm việc ở Việt Nam, và các nhà khoa học trẻ đã được đào tạo ở nước ngoài.
Chúng tôi hy vọng, do cơ sở tốt của viện đang hy vọng được thành lập, lôi cuốn họ về Việt Nam làm việc 1 thời gian. Có thể không phải là vĩnh viễn, 6 tháng thôi, nhưng kết hợp, dần cuốn hút để nhiều nhà khoa học về Việt Nam làm việc hơn.
Cá nhân tôi thì công việc chính vẫn làm GS ở ĐH Chicago. Nhưng nếu viện thành lập, từ tháng 6 đến tháng 8, tôi sẽ ở Việt Nam, trực tiếp tham gia vào tổ chức khoa học, làm khoa học ở Việt Nam. Ban lãnh đạo gọn nhẹ, nhưng có trách nhiệm tuyển chọn hồ sơ theo lí lịch khoa học, đề tài nghiên cứu, khả năng hợp tác. Chúng tôi không khuyến khích những người làm việc một mình. Khi có việc quan trọng, tôi sẽ tham gia trực tiếp.
![]() |
| GS Lê Tuấn Hoa |
GS Lê Tuấn Hoa: Trong đề án ban đầu của ban soạn thảo, viện này có tên là viện đào tạo và nghiên cứu cấp cao về toán. Sau khi đóng góp ý kiến, chỉ còn tên viện nghiên cứu cao cấp về toán. Hiện nay, đang trong quyết định phê duyệt đến lúc có thành lập được hay không thì sẽ có tên khác.
Chương trình này trực thuộc Bộ GD-ĐT vì mục đích phục vụ nhà toán học trong nước, lực lượng trong nước ở các trường; sau này, việc điều phối sẽ dễ dàng. Tất nhiên vẫn có một lượng đáng kể các nhà toán học nước ngoài về làm việc ở viện. Nếu không có sự tương tác như vậy thì không thể có sự phát triển toán học được. Ngay cả các nhà vật lý, sinh học, nếu trong công trình nghiên cứu của họ có sử dụng nhiều về toán thì cũng có thể mời đến để làm việc.
GS Ngô Bảo Châu có thể về nước 3 tháng hoặc ít hơn, nhưng không hạn chế khả năng đóng góp vì những trao đổi qua email là thường xuyên. Việc thành lập càng muộn thì việc GS Ngô Bảo Châu thu xếp được thời gian càng khó. Các nhà toán học đang hăng hái.
Khi viện thành lập thì sẽ có sự khác biệt thế nào với Viện Toán học hiện nay? Trong tương lai, có sáp nhập hai viện hay không?
![]() |
| GS Ngô Việt Trung. |
GS Ngô Việt Trung: Viện này khó nói.
Viện Toán học là đơn vị hành chính sự nghiệp, tuân thủ quy định hiện hành, nhưng có bất cập rất lớn là không có quyền đào tạo. Ví dụ, chúng tôi phải liên kết với ĐH Thái Nguyên để đào tạo. Vì vậy, cần có viện nghiên cứu với cơ chế đặc biệt, trước mắt cho sự nghiệp đào tạo, cho toán học là các ngành khoa học khác.
Các nước khác cũng tồn tại hai viện song song, như Hàn Quốc. Cái cơ cấu của viện không phải nghiên cứu cố định. Tôi nghĩ, có hội đồng khoa học quyết định. Những người đến đấy học cán bộ trẻ vẫn là cán bộ cơ quan trẻ của mình, nâng cao trình độ chuyên môn.
GS Lê Tuấn Hoa: Hai viện nghiên cứu khác nhau về cơ chế và phương thức hoạt động.
Viện Toán hiện nay có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu làm việc thường xuyên, được trả lương từ ngân sách nhà nước. Còn viện Toán cao cấp sẽ không trả lương. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong thời gian đến làm việc tại viện sẽ không được nhận lương mà nhận một khoản tài trợ nghiên cứu.
Trong thời gian đó, họ không phải giảng dạy, chỉ tập trung cho việc nghiên cứu. Thay vì đi công tác hay nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà toán học có một nơi để nghiên cứu ngay trong nước. Đây là mô hình có thể áp dụng cho nhiều ngành khoa học. Nhưng ngành toán xin được mở đầu , thử nghiệm trước vì kinh phí dành cho toán cũng rẻ, ít tốn kém hơn.
GS.Ngô Bảo Châu: Mô hình này thích hợp với khoa học lí thuyết, không thích hợp với khoa học thực nghiệm. Vì cán bộ luân chuyển thực nghiệm mà máy móc, phải luân chuyển thì không thể thực hiện được.
Chúng tôi tiên phong làm toán học trước không phải là muốn giành cho toán học một tài trợ gì đó. Nếu ngành khác muốn tham gia, chúng tôi rất ủng hộ.
15 năm trước, GS.Hoàng Tuỵ đã xây dựng một đề án thành lập một trung tâm nghiên cứu toán học trong công nghiệp và quản lí, cũng là một một mô hình đặc biệt, rất công phu, cũng đã trình lên trên và được ủng hộ. Rất tiếc là không vượt qua được trở ngại về mặt nhận thức và cơ chế quản lí.
Bây giờ, chúng ta có cơ chế mới. Chúng tôi rất tin và kì vọng vào điều này.
Các nhà khoa học nước ngoài cũng về nước nhiều, nhưng về với tư cáchtham gia một vài công việc nào đó, song lại đi. Chứ trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động khoa học thì chưa có.
Chúng ta cần huy động những trí tuệ đó. Đây là mô hình để họ tham gia, như một tập thể khoa học, tập hợp, tổ chức. Một cơ sở tạo điều kiện cho họ tham gia tổ chức, phát triển toán học.
Ngoài phần đầu tư từ ngân sách Nhà nước, viện có các nguồn tài trợ từ bên ngoài không?
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu cùng các đồng nghiệp ở Viện Toán học và các trường ĐH. Ảnh: Bùi Tuấn |
GS Lê Tuấn Hoa: Nếu chính phủ không có sự quan tâm đầu tư thì không thể thành lập được. Viện KIAS của Hàn Quốc có kinh phí hoạt động một năm là 18 triệu USD. Trong đó 15 triệu USD do chính phủ cấp, 3 triệu USD còn lại do viện tự vận động tài trợ từ cá nhân, doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, chưa thể kỳ vọng nhiều vào sự tài trợ của giới doanh nghiệp hay tài trợ từ xã hội. Ngân sách Nhà nước vẫn phải đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nghiên cứu khoa học cơ bản như toán học.
GS Ngô Bảo Châu: Viện nghiên cứu cao cấp Princeton có một khoản vốn từ tư nhân lên tới 500 triệu USD. Số vốn này được giữ cố định, lấy lãi hàng năm làm kinh phí hoạt động, như trả lương cho 50 GS cơ hữu của Viện, còn những người đến Viện đó làm việc ngắn hạn hàng năm như làm sau tiến sĩ (khoảng 70 người), hay làm nghiên cứu.. thì hoàn toàn do Nhà nước trả lương (qua quỹ NSF của Mỹ). Mỗi năm có hàng trăm các nhà khoa học đến làm việc tại viện.
Một trong những tôn chỉ hoạt động, mục đích của Viện NCCC Princeton là đào tạo sau tiến sĩ. Sau khi làm xong PhD (tiến sĩ), muốn làm việc chuyên nghiệp thì phải làm post doc (sau tiến sĩ). Thời gian làm post doc tạo ra cơ hội học hỏi từ người giỏi gần như số một thế giới, người có khả năng truyền cảm hứng hay có giải đáp nào đó mà có thể thay đổi công việc khoa học của người đó.
Viện IAS của Princeton có được khoản vốn 500 triệu USD là vì họ đã tích lũy trong 70 năm. Bây giờ chúng ta mới thành lập thì không thể làm giống như vậy, đạt được ngay như họ. Vì thế, chúng ta mới phải đặt ra vấn đề có một cơ chế đặc biệt cho hoạt động của viện.
Như GS Ngô Bảo Châu nói, một trong những mục tiêu của viện nghiên cứu cấp cao này là tạo vườn ươm cho các nhóm nghiên cứu. Liệu có tình trạng giảng viên từ các trường ĐH sau khi về viện làm việc một thời gian, nâng cao được trình độ, năng lực, sẽ tiếp tục ra nước ngoài nghiên cứu và không quay về trường cũ? Như vậy liệu có phải là một sự đầu tư lãng phí?
GS Ngô Bảo Châu: Cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Hiện nay, nhà nước cũng đang đầu tư rất nhiều tiền cho chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Nếu không có chính sách, việc thu hút những người cử đi đào tạo ở nước ngoài về cũng còn khó khăn, nói gì đến những người tự tìm kiếm được cơ hội đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.
Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ. Còn sau đó, nếu họ đã ổn định cuộc sống gia đình, công việc ở nước ngoài, việc thu hút họ về hẳn sẽ khó hơn. Việc hình thành một viện nghiên cứu có thể đảm nhận được việc đào tạo sau tiến sĩ ngay trong nước cũng là một điều kiện để thu hút các nhà khoa học sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ trở về Việt Nam.
GS Lê Tuấn Hoa: Nếu sau thời gian làm việc ở viện nghiên cứu cao cấp về toán, các nhà toán học Việt Nam đủ trình độ, uy tín được các GS nước ngoài nhận đi làm nghiên cứu tiếp thì theo tôi, đó là một điều đáng mừng, đáng tự hào chứ không đáng lo.
Trong bài phát biểu của anh Châu ở Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình có đề cập tới điều kiện cho khoa học phát triển lành mạnh là cần có tự do tuyệt đối. Đặt trong bối cảnh của mình hiện nay, nên hiểu ý của anh như thế nào?
GS Ngô Bảo Châu: Khoa học cơ bản do sự đầu tư, nhà nước có định hướng. Nhưng nếu nhà nước có chỉ định cụ thể, tôi không tin điều đó sẽ giúp cho khoa học phát triển. Tự do tức là việc tự nhà khoa học chọn làm, chứ không phải người khác bảo làm cái gì. Một ví dụ cụ thể, những nơi mà khoa học phát triển, chẳng hạn, Pháp đầu thế kỷ 19, Đức cuối thế kỷ 19 và Mỹ trong thế kỷ này, là những nơi mà tinh thần tự do học thuật đạt đến đỉnh cao.
Cập nhật theo:Tinmoi.vn











