Posts tagged giảng viên

Nữ thủ khoa xinh đẹp ngại “làm cảnh”

Gặp Từ Ngọc Phụng, thủ khoa đầu ra trường ĐH Ngoại thương TPHCM, người đối diện sẽ buột miệng: “Thủ khoa sao… xinh thế?”. Tấm bằng đẹp và hình thức bê ngoài không chỉ là lợi thế mà cũng là áp lực với cô bạn này.

Học không giấu dốt

Ít ai biết, cô gái Từ Ngọc Phụng vốn rất nhút nhát nên học xong phổ thông cô quyết định thi vào khoa Kinh tế Đối ngoại của hai trường ĐH Ngoại thương và ĐH Quốc gia TPHCM. Đỗ cả hai trường, Phụng chọn môi trường Ngoại thương để khắc phục điểm yếu của mình. Hơn nữa đây cũng là ngành học Phụng có thể phát huy lợi thế về Ngoại ngữ của mình khi cô sử dụng thành thạo tiếng Anh lẫn tiếng Trung từ hồi nhỏ.

Với Phụng, không chỉ việc học mà cả trong mọi việc, để đạt hiệu quả yếu tố đầu tiên là không được giấu dốt. Lúc nào không hiểu bài, Phụng không quên tham khảo ngay thầy cô, bạn bè. Chính điều này giúp Phụng nhận thấy kiến thức của mình còn hạn chế, tạo động lực cố gắng và không cho phép bản thân được thỏa mãn.

Bên cạnh đó, không chỉ học lý thuyết suông, Ngọc Phụng đề cao học phải kết hợp với hành. Ngay từ những năm đầu ở giảng đường, Phụng đã đi gia sư, làm thêm ở các công ty giao nhận, dịch thuật… để củng cố kiến thức. “Học Ngoại ngữ cũng vậy, em rất chăm nghe nhạc, xem phim nước ngoài… để rèn khả năng nghe, nói cho mình hàng ngày”, Phụng cho hay.

Ngoài ra, trong cuộc sống Phụng giữ thói quen lập kế hoạch rất cụ thể cho mọi việc để không đẩy mình vào cảnh việc gì cũng dang dở và tận dụng quỹ thời gian một cách khoa học nhất. 16 năm liền đứng đầu lớp về kết quả học tập, mới đây Phụng xuất sắc trở thành thủ khoa tốt nghiệp với điểm trung bình 8,47 nhưng cô gái xác định rõ đó chỉ là bước khởi đầu.
Xinh cũng là áp lực
Bạn bè quen Ngọc Phụng thường dí dỏm ví cô là “của hiếm” bởi không chỉ học giỏi, Phụng còn được cả… hình thức bên ngoài cao ráo, trắng trẻo và nét mặt rất có duyên. Thế nhưng lợi thế học giỏi và có một bề ngoài “nhìn được” lại là một trong những áp lực lớn với Phụng khi đi làm.

Tiếp xúc với môi trường công việc, Phụng biết không ít người quan niệm người có điểm học cao, tấm bằng đẹp thì chỉ có lý thuyết suông chứ bước vào thực hành sẽ cuống ngay

Ngọc Phụng không phủ nhận, hình thức “tạm ổn” giúp mình dễ dàng kết thân với bạn
bè, đồng nghiệp. Nhưng Phụng cũng phải đối mặt với với không ít cái nhìn thiếu thiện cảm người đẹp thì “đầu ngắn”, chỉ để “làm cảnh”. “Thế nên em phải luôn không ngừng cố gắng hoàn thiện mình để có “át” đi những quan niệm như vậy. Em muốn được mọi người nhìn nhận công bằng thông qua khả năng và những việc mình làm”, Phụng chân thành.

Hiện tại, Ngọc Phụng đang làm việc tại bộ phận Khách hàng doanh nghiệp của một ngân hàng có tiếng với vai trò trợ lý Giám đốc quan hệ khách hàng. Tuy mới “chập chững”, nhưng Phụng đã được giao khối lượng công việc khổng lồ: tư vấn về thị trường, lãi suất, những giải pháp tiết kiệm chi phí; giúp khách hàng giải quyết những vấn đề phát sinh trong nghiệp vụ như thanh toán, giải ngân, bảo hiểm…; viết báo cáo phân tích tài chính và rủi ro của doanh nghiệp; tìm kiếm khách hàng mới.

“Em mới ra trường nên gặp nhiều khó khăn trong đàm phán, thỏa thuận với khách hàng. Nhưng em cũng luôn tự nhắc nhở phải cố gắng hoàn thành tốt mọi công việc được giao để đạt hiệu quả cao nhất có thể”, Ngọc Phụng cho hay. Bởi đây cũng là lúc cô chứng minh khả năng của mình “ngang ngửa” với tấm bằng mình nhận được.

Dự định sắp tới của Phụng sẽ tiếp tục học nâng cao về lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, cô gái trẻ ấp ủ đến năm 30 tuổi sẽ trở thành “bà chủ nhỏ” một cửa hàng về ẩm thực.

Theo:dantri

Trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège

Nội dung bài viết dưới đây xin được xem như một thí dụ chứ không phải là một kiểu mẫu giáo dục. Tất cả những chính sách, qui chế, tổ chức… đại học tùy thuộc rất nhiều yếu tố về truyền thống, lịch sử, văn hóa, nhân lực, phương tiện hiện hữu…

1. Bối cảnh của việc trò “chấm điểm” thầy tại Đại học Liège (Bỉ)

Chúng tôi là một Đại học nhỏ, 20.000 sinh viên, một Đại học xưa gần 200 năm tuổi, đã có thời hoàng kim trong hai thế kỷ trước, nhất là với trường Kỷ sư, nhưng hiện không có trong danh sách 200 Đại học hàng đầu thế giới.

Bù lại chúng tôi có truyền thống rất mở: tôn trọng tất cả chính kiến, đảng phái và tôn giáo (có những Đại học ở Bỉ ít tự do hơn chúng tôi).

Đại học Liège nằm trong một khu rừng xanh rộng 2.000 mẫu. Cái hiền hòa và thoáng mát của khung cảnh có thể làm cho con người thoải mái và lịch sự với nhau chăng?

Hệ thống giáo dục ở Bỉ có thể tóm tắt trong ba điểm chính :

- Cưỡng bức và miễn phí hoàn toàn cho tất cả trẻ em tới năm 18 tuổi

- Hệ cao đẳng và đại học được tài trợ bởi chính phủ (từ 10.000 euros tới 15.000 euros cho mỗi sinh viên tùy theo năm và ngành học – sinh viên chỉ đóng từ 400 tới 900 euros mỗi năm).

- Giáo dục phổ thông có một khung chương trình được chính phủ đề ra, dựa theo đó các trường có quyền uyển chuyển sửa đổi áp dụng. Cấp đại học thì hoàn toàn tự do. Nhiều sinh viên chọn trường và chọn môn học trên cơ sở tiếng tăm của trường hay của giáo sư chẳng hạn (kiểu “lên núi tầm sư học đạo” của ta ngày xưa).

Ngoài những chi tiết kể trên, phải kể thêm sơ lược về bối cảnh văn hóa đại học :

- Liên hệ giữa thầy và trò không phải là một liên hệ thẳng trên – dưới, mạnh – yếu mà là một liên hệ tam giác giữa người đi học – kiến thức và người đi dạy. Ba “nhân tố” này đều quan trọng cả ba.

- Sinh viên chọn một ngành học vì nhiều lý do trong đó có sở thích cá nhân, sinh viên “đóng” một vai trò tích cực chứ không thụ động hấp thụ sự truyền đạt của thầy.

- Trong một xã hội mà càng ngày càng chuyên môn hóa – chuyên ngành chuyên nghề, đòi hỏi sự xuất sắc là cần thiết thì  phải dùng mọi phương tiện để đạt được kết quả đó – “chấm điểm” thầy là một trong những phương tiện .

- Riêng tại Liège, đầu những năm 1990, Jean Thérer, một giáo sư ngành giáo dục đã đặt ra “Tuyên Ngôn Quyền của người đi học”  làm nền móng cho một kiểu cách sư phạm nặng tính nhân bản.

2. Cụ thể trò ”chấm điểm” thầy thế nào?

Chiến dịch – opération -  được đặt tên là “SMART Evalens”  được hiểu là  “hệ thống phương pháp giúp thực hiện trắc nghiệm đánh giá giáo sư”  (Système Méthodologique d’Aide à la Réalisation de Tests d’Evaluation des Enseignants)  nhưng chữ Smart được tất cả cộng đồng giáo dục nhớ liền, nó “khả ái” làm sao ấy !

Bảng điều tra chỉ có một tờ, theo nguyên tắc chỉ cần 10 đến 20 phút là điền xong. Thời gian này tùy theo độ dài của  3 câu trả lời mở cuối bảng điều tra.

Ba câu này hỏi ý kiến cá nhân của sinh viên về môn học, về những bài tập ứng dụng hay bài tập có hướng dẫn và về các cuộc thi của môn ấy. Ba câu trả lời này được dành cho ba khung, chiếm nửa trang giấy, tức là một phần tư diện tích của bảng điều tra – vì chúng quan trọng,  thể hiện phê bình riêng tư của từng sinh viên.

Ba câu trả lời này đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức để khai thác, phân tích và đúc kết vì phải đọc bằng… sức người. Những câu “đặc sắc” hay được nhiều sinh viên viết ra sẽ được chép y nguyên lại đưa cho giáo sư liên hệ cùng với những kết quả khác.

Tất cả trên 50 câu hỏi khác (một trang rưỡi của tờ điều tra) đều được trình bày để có thể trả lời bằng cách tô đen. Như thế,  máy tính đọc được và phân tích kết quả bằng chương trình tin học.

Sinh viên chỉ việc “cho điểm” từ 1 thấp nhất đến 5 – hiện nay là tới 6 – điểm cao nhất cho mỗi mục (item) – có quyền không trả lời hay có thể đánh dấu “không liên hệ”

Những câu hỏi này thuộc ba chủ đề :

. Phê bình những bài giảng của môn dạy: 16 câu hỏi đi từ chi tiết cụ thể (giờ giấc, giọng nói, dụng cụ sư phạm, giáo trình…)   cho đến nội dung (có phù hợp với chủ đích của ngành, có giúp cho sinh viên học hỏi thêm, tiến bộ trong chuyên môn, có trùng hợp với các môn khác…)  và dĩ nhiên,  phương pháp sư phạm (có thích hợp với trình độ của sinh viên, có trả lời những khó khăn của sinh viên, có đam mê và truyền đạt cái đam mê ấy cho sinh viên…)

- Phê bình các cuộc thi : 13 câu về cách hỏi thi, cách tổ chức các cuộc thi, cách giáo sư chuẩn bị cho sinh viên học thi, những gì giáo sư chờ đợi nơi sinh viên, chỉ tiêu, “thể lệ” hay cách chấm điểm có được cho biết trước hay không, câu hỏi bài thi có bao phủ hết môn học hay không, …

- Phần thứ ba, quan trọng nhất: 22 câu về bài tập ứng dụng, tham khảo thêm có hướng dẫn hay lâm sàng (cho sinh viên Y khoa và Thú Y)

Trên bình diện sư phạm, sinh viên không thể chỉ biết lý thuyết thôi mà còn phải biết ứng dụng, biết làm, để biết xoay sở trước mọi tình huống sau này, để tự lập. Chúng tôi vẫn nói, một cách hơi quá đáng,  “dạy học tức là giải phóng” (ít nhất là giải phóng cho sự kém hiểu biết) và “người có tri thức là người tự do”.

Ở đây sinh viên phán đoán tầm quan trọng mà giáo sư dành cho các bài tập thực dụng, tổ chức việc làm của các trợ tá đặc trách lo cho sinh viên, công tác điều khiển sinh viên trong quá trình tự học thêm, sự tận tụy giúp đỡ sinh viên, …

Triết lý mà nói, nếu phần ứng dụng này giáo sư làm tốt thì giáo sư rõ là người “khai tâm”, dạy cách học (apprendre à apprendre) cho sinh viên tiếp tục con đường tự học trong suốt quãng đời còn lại.

Cái đánh giá của mỗi sinh viên là chủ quan. Nhưng các mục đưa ra đều cụ thể, có thể “đong và đếm” được.

Dỉ nhiên mỗi bảng điều tra đều có phần hành chính ghi  môn học, tên giáo sư dạy, phân khoa, năm học, ngày điền bảng chấm điểm nhưng tuyệt nhiên không có tên họ của sinh viên, tác giả bảng chấm điểm.

3. Sau đó ?

Phần “khổ sở” tức là công việc của phân khoa sư phạm: khai thác, phân tích và cô đọng các kết quả.

Một công việc nặng vì cả Đại học có hơn cả ngàn giáo sư, dạy ba ngàn môn. Thế nên công việc không thể tái diễn mỗi năm cho mỗi môn mà  thông thường cứ khoảng 5 năm một lần cho mỗi người.

Mỗi giáo sư sẽ nhận được đúng là bảng điều tra với số điểm của mình cho từng mục. Như thế, người đứng trên bục giảng biết được phản ảnh của sinh viên, chỗ nào được, chỗ nào còn thiếu qua nhận định của học trò mình. Và nhất là các ý kiến cá nhân của các sinh viên qua các câu trả lời tự do.

Đồng thời mỗi giáo sư còn nhận được một đồ thị bảng “điểm trung bình” của tất cả các đồng nghiệp cùng một khoa hầu có thể xác định vị trí của cá nhân (trên hay dưới trung bình đó – và trên hay dưới chỗ nào, phạm vi nào) .

Vấn đề đăng các kết quả của “Smart Evalens – đánh giá giáo sư” lên trang nhà nội bộ (intranet) của Đại học đã được bàn đến cách đây mấy năm. Hiện vẫn chưa ngã ngũ.

Nguyên tắc tự do sư phạm không cho phép bất cứ ai, kể cả Viện trưởng Đại học, áp dụng một chế tài nào đối với các giáo sư -  để khen thưởng hay chê bai – Thế nhưng phải nói là cộng đồng đại học ở Liège thoải mái với việc sinh viên cho điểm giáo sư. Có thể vì đại đa số ý thức được vai trò và bổn phận của mình, có thể vì tinh thần trách nhiệm của cá nhân cao.

Một “bảng điểm tốt” là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với người mang nghề “bán cháo phổi”, là một đền bù vô giá cho những giờ cặm cụi soạn giáo trình, chuẩn bị ảnh đèn chiếu (hồi xưa) hay power point (bây giờ), lên giảng đường, …

Những phê bình tiêu cực lại rất là quí giá: một người giỏi nghiên cứu (tất cả giáo sư Đại học qua bổ nhiệm đều là những chuyên gia có giá trị và đã được cộng đồng khoa học quốc tế  thừa nhận)   chưa hẳn là một nhà sư phạm  (vì khả năng sư phạm không phải là bẩm sinh)  nên đánh giá của sinh viên giúp người đi dạy  biết sở trường sở đoản của mình để làm tốt hơn.

Mà cũng có thể giáo sư bị phê bình tiêu cực chỉ vì nhu cầu của đa phần sinh viên một lớp nào đó khác đi so với thường lệ. Mà việc dạy học là một việc chung của người dạy và người học, hai người đi cùng một khúc đường với một chủ đích duy nhất: làm chủ cái hiểu biết.

Hai người đồng hành thì phải sóng bước cùng nhịp với nhau. Không để ý tới nhu cầu và nhận xét của sinh viên, chúng không học tốt thì người đi dạy thất bại. Tệ hơn nữa, không trả lời được chờ đợi của sinh viên, chúng chán nản, không tới lớp, người đi dạy sẽ giảng cho bốn bức tường của giảng đường ư ?

Nếu cần, các giáo sư có thể gọi “cầu cứu” bên bộ phận sư phạm của phân khoa. Bộ phận này làm việc trên cơ sở theo nhu cầu, không áp đặt.  Cùng với giáo sư nhờ giúp, họ sẽ phân tích hoàn cảnh, vốn khả năng của sinh viên, đặc thù và đòi hỏi của môn học để hướng đến những giải pháp sư phạm có thể thích ứng.

Trong tương lai, các giáo sư Đại học sẽ phải chứng minh khả năng sư phạm bằng một chứng chỉ hay bằng cấp chuyên môn.

Nhìn chung, hai phân khoa “dị ứng” nhất, lúc đầu, đối với việc sinh viên chấm điểm giáo sư là Y khoa và Luật khoa. Vì đó là hai phân khoa bảo thủ nhiều hơn. Nhưng tình hình cũng thay đổi và chúng tôi áp dụng hình thức dân chủ này từ hơn hai mươi năm nay.

Sinh viên ở Liège xem việc cho điểm giáo sư là một việc bình thường, cũng bình thường như việc đại diện của sinh viên (qua bầu cử) họp cùng với giáo sư trong Hội đồng Quản trị Đại học hay Hội đồng phân khoa  hầu giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống của Đại học hay của phân khoa.

Sinh viên náo loạn vì người đàn ông rạch bụng ở phòng học

Sáng nay, người đàn ông khoảng 30 tuổi chạy xộc vào Đại học Ngoại ngữ, hớt hải nói: “Có người đuổi muốn giết tôi”. Hàng trăm sinh viên hoảng sợ khi anh này cố thủ trong giảng đường, cầm mảnh kính tự sát.


Sự việc xảy ra lúc hơn 7h tại khu nhà A2 Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Theo thầy Phạm Đức Trung, giảng viên khoa ngôn ngữ văn hóa Trung Quốc, thời điểm đó thầy và khoảng 10 sinh viên năm thứ 4 đang trong giảng đường thì bất ngờ người đàn ông đầu tóc rối bù, vẻ mặt hớt hải xông vào.

“Anh ta nói: ‘Có người đuổi theo và muốn giết tôi’, yêu cầu cho mượn điện thoại để nhờ cảnh sát 113 đến trợ giúp”, vị giảng viên kể lại. Quan sát thấy xung quanh không như những gì anh ta nói, thầy Trung không làm theo. Khi đề nghị không được đáp ứng, người đàn ông bất ngờ đấm vỡ cửa kính ngay cạnh bàn giáo viên. Thầy Trung nhanh chóng bảo học trò chạy ra ngoài, phòng trường hợp xấu xảy ra.

“May là anh ta hung hăng nhưng không gây thương tích cho sinh viên nào”, nam giảng viên nói.

Bảo vệ Đinh Quang Bình cho biết khi vào phòng anh thấy người đàn ông này lăm lăm trong tay mảnh kính vỡ. “Tôi định xông vào khống chế nhưng liền bị quát: “Mày vào tao ném chết…”, anh Bình kể với PV

Sau khoảng 15 phút cảnh sát 113 xuất hiện. Mặc dù được động viên, thuyết phục song anh ta vẫn rất hoảng loạn, liên tiếp đập vỡ những mảng kính. Gần 9h, người đàn ông chừng 30 tuổi đã tự rạch bụng. Trong lúc đau đớn, anh ta luôn miệng kêu: “Công an ơi, chúng nó giết tôi”.

Theo ghi nhận của PV, tại hiện trường là phòng học 105 máu lênh láng trên mặt bàn và sàn nhà. Một công an tham gia đưa người đi cấp cứu kể lại: “Máu chảy quá nhiều, chúng tôi phải dùng chăn để thấm. Mặt anh ta tái dại…”.

Nạn nhân được đưa đến Bệnh viện 198 của Bộ Công an ở gần đó. Nhận định ban đầu về nguyên nhân vụ việc, một cán bộ công an có thẩm quyền cho biết nhiều khả năng người đàn ông này bị hoang tưởng.

Danh tính nạn nhân đang được cơ quan chức năng khẩn trương xác minh.

GS Ngô Bảo Châu được tôn vinh tại Pháp

Tối 16/11, lễ tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng Fields 2010 đã diễn ra trọng thể tại hội trường lớn Khoa Toán Trường đại học Paris 11, ở thành phố Orsay, ngoại ô Paris, Pháp.

Trong diễn văn khai mạc lễ tôn vinh, Chủ tịch Đại học Paris 11, ông Guy Couarraze đã khẳng định niềm tự hào của khoa Toán và Đại học Paris 11 được đón tiếp người học sinh cũ, người đã đoạt giải thưởng Clay danh giá năm 2007 cùng với giáo sư Gérard Laumon khi giải quyết hoàn toàn bổ đề cơ bản. Công trình này cũng được tạp chí Time của Mỹ xếp là 7 trong 10 khám phá khoa học nổi bật của thế giới năm 2009.

Theo ông Couarraze, trong con người Ngô Bảo Châu nổi lên hai điều vô cùng quý giá, đó là tuổi trẻ của người học trò đam mê khoa học và sự trung thành với đất nước Việt Nam nơi đã sinh ra anh.

Ông Couarraze cho rằng Ngô Bảo Châu là “cây cầu nối” quý báu thúc đẩy hợp tác Pháp-Việt trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học, được đánh dấu bằng dự án hợp tác giữa trường Đại học Paris 11 với Đại học Khoa học và công nghệ Hà Nội.

Phát biểu tại lễ tôn vinh, Bộ trưởng Đại học và Nghiên cứu của Pháp, bà Valérie Pécresse khẳng định Ngô Bảo Châu là vị giáo sư của ba nước (Pháp, Việt Nam và Mỹ), đại diện cho ba châu lục (châu Âu, châu Á và châu Mỹ).

Bà Pécresse nhấn mạnh Giải thưởng Fields mà Ngô Bảo Châu giành được là phần thưởng cao quý đối với ngành toán học nói chung, Việt Nam nói riêng, đồng thời đem lại niềm vinh dự cho ngành toán học Pháp, đặc biệt là Đại học Paris 11. Bà Pécresse bày tỏ vui mừng trước quyết định của giáo sư Ngô Bảo Châu trong việc tạo dựng cầu nối nghiên cứu khoa học giữa ba châu lục.

Đề cập đến vinh quang của Ngô Bảo Châu, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Pháp Lê Kinh Tài cho rằng giải thưởng Fields là niềm tự hào của ngành giáo dục, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo Việt Nam, Pháp và Mỹ đã giúp đỡ, giảng dạy và đồng hành cùng Ngô Bảo Châu trong suốt chặng đường học tập, nghiên cứu và rèn luyện của anh.

Đại sứ bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng với sự giúp đỡ của chính phủ Pháp, của các giáo sư, nhà nghiên cứu Pháp, và đồng nghiệp Việt Nam cùng quyết tâm của giáo sư Ngô Bảo Châu, sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu Việt-Pháp sẽ ngày càng “đơm hoa kết trái.” Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện để giáo sư Ngô Bảo Châu có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của ngành toán học nước nhà.

Đại sứ Lê Kinh Tài cho biết hiện có khoảng 6.000 sinh viên và gần 700 nghiên cứu sinh tiến sĩ Việt Nam đang theo học và làm các đề tài nghiên cứu tại Pháp.

Bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được có mặt tại nơi trải qua những tháng ngày học và nghiên cứu Toán, giáo sư Ngô Bảo Châu nói rằng Paris 11 chính là nơi đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời khoa học của anh.

Ôn lại kỷ niệm về người thầy đã tận tình giúp anh từ buổi chập chững ban đầu đọc hiểu từng trang tài liệu, Ngô Bảo Châu muốn chia sẻ niềm tin rằng nơi đây sẽ tiếp tục gieo mầm cho những thành công lớn về toán học trong tương lai.

Theo Vietnam+

Nữ sinh gốc Việt đoạt giải thưởng dành cho sinh viên xuất sắc

Cuối tháng trước, Phương Nguyễn, nữ sinh viên cao học gốc Việt tại Trường đại học Dominguez Hills – California (Mỹ) đã được Ban giám đốc Hệ thống Đại học California quyết định trao tặng giải thưởng William Randolph Heart/CSU Trustee Award năm 2010 (Outstanding Achievement for 2010).


Theo thông lệ, giải này được trao mỗi năm một lần cho một cá nhân xuất sắc nhất, nhưng có tinh thần vượt khó khăn trong cuộc sống và học tập của 1/23 ngôi trường trong toàn Hệ thống.

Phương Nguyễn sinh năm 1982, qua Mỹ định cư theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) năm 1991. Dù phải học 2 cấp dưới lớp do trình độ tiếng Anh còn kém, cô vẫn ra trường năm 19 tuổi trong danh sách 15 người đạt điểm cao nhất Trường Trung học Narbonne High School ở Harbor City. Sau đó, với năng khiếu đặc biệt về toán, cô được nhận vào học tại Trường ĐH Dominguez Hills.

Thuở ấu thơ, Phương Nguyễn đã từng cận kề với cái chết vì chứng sốt rét ác tính khi gần 1 tuổi, kèm theo những bất hạnh khác trong gia đình những năm gần đây, tưởng chừng cô không thể trở thành một giáo sư toán khi theo học tại Trường ĐH Dominguez Hills. Nhưng mỗi lần gặp khó khăn là mỗi lần cô cảm thấy mạnh mẽ hơn để theo đuổi giấc mơ riêng của mình. Năm 2009, Phương Nguyễn tốt nghiệp cử nhân ngành sư phạm Toán và hiện là giáo sư Toán tại Trường Trung học John C. Fremont ở Los Angeles.

Phương Nguyễn cho biết nhờ nhận được giải thưởng Hearst Scholar, vào đầu khóa mùa thu này cô sẽ ghi danh lớp Cao học Sư phạm Toán tại khoa Toán của Trường ĐH Dominguez Hills. Cô phát biểu: “Bằng cao học sẽ mang lại vinh dự cho cá nhân tôi và danh dự cho cha mẹ tôi. Tôi cũng có thể mang khoe với các anh chị em của tôi nữa. Lý do vì họ đều là các kế toán viên, nhưng hầu như không ai có bằng cao học. Tôi sẽ là người đầu tiên trong gia đình có được mảnh bằng quý giá này!”.

Ngoài số tiền học bổng 3.000 USD, người đoạt giải Hearst Scholars còn được nhà tài trợ Sony tặng một chiếc laptop hiệu Vaio cùng một máy quay phim Bloggie. Phương Nguyễn tâm sự: “Bấy nay tôi vẫn luôn ấp ủ ước mơ một ngày nào đó sẽ là người chủ xướng lập ra một quỹ học bổng giúp các nạn nhân của tệ nạn buôn người ở Việt Nam và một số nước khác trên thế giới!”.

Theo Đại Đoàn Kết

Giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường

“Riêng đối với khối giáo dục CĐ, ĐH, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa…”, TS, Nhà giáo ưu tú Đặng Huỳnh Mai viết.


Vấn đề mối quan hệ cũng như sự tác động giữa giáo dục và nền kinh tế thị trường đã được rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đề cập trong nhiều diễn đàn và hội thảo khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ tiếp cận vấn đề trên quan điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của kinh tế thị trường đối với giáo dục được xem xét trên cơ sở của mối quan hệ giữa giáo dục với thị trường hàng hóa (mang hình thái vật chất); thị trường nhân tài; thị trường dịch vụ lao động và cả mối quan hệ giữa cơ chế giáo dục với cơ cấu kinh tế…

Có thể hiểu, thị trường là nơi hoặc lĩnh vực trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành mua bán. Còn thị trường giáo dục – nếu thừa nhận sự tồn tại của nó – thì phải được xét trên các lĩnh vực như: sự nghiệp giáo dục, nguồn lực giáo dục, sản phẩm của giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như cái gì là nơi có thể trao đổi, mua bán.

Những lý luận liên quan

Về sự nghiệp giáo dục: Về việc giáo dục liệu có phải là sản xuất công nghiệp hay không, thì cho đến nay, giới kinh tế học giáo dục đưa ra những ý kiến, góc nhìn và nhận xét khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.

- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt

Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là “ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân”; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.

Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.

Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào, thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?

Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã hội, và vì vậy, lẽ đương nhiên, giáo dục là một ngành sản xuất.

Tuy nhiên, nếu giáo dục là một ngành sản xuất, thì nó cũng phải chịu sự chế ước và chi phối của quy luật kinh tế thị trường. Nhưng tự bản thân giáo dục cũng có quy luật riêng, cố hữu của nó, và tất yếu vấn đề chiến lược xây dựng và phát triển giáo dục của một đất nước lại phải tuân theo quy luật của bản thân ngành giáo dục và quy luật xây dựng và phát triển của đất nước đó.

- Quan niệm giáo dục là yếu tố sản xuất

Quan niệm này cho rằng, giáo dục là yếu tố sản xuất quan trọng nhất của sản xuất xã hội. Bởi vì, nhân tài và người lao động chính là sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, sản phẩm từ sản xuất giáo dục là sức lao động có tri thức và kỹ năng nhất định, có “giá trị” và “giá trị sử dụng”.

- Quan niệm giáo dục không là sản xuất

Nhiều học giả trên thế giới không hoàn toàn đồng ý với quan niệm giáo dục “là một ngành sản xuất”, khi cho rằng, cần phải coi quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hóa, khoa học – kỹ thuật. Nếu xét từ góc độ này, giáo dục cũng có tính sản xuất nhất định. Mặc dù bản thân giáo dục không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng đã “sản xuất” ra những con người làm ra của cải vật chất.

Về sản phẩm giáo dục:

- Sản phẩm và hoạt động của dịch vụ giáo dục là hàng hóa. Sản phẩm và dịch vụ giáo dục được tiến hành trao đổi, bao gồm sản phẩm dịch vụ giáo dục và sản phẩm của các ngành khác. Người ta cho rằng, nếu không có kiểu trao đổi này, quan điểm giáo dục là ngành sản xuất sẽ không còn tồn tại. Vì vậy, sản phẩm dịch vụ giáo dục phải là hàng hóa và cần phải được thị trường hóa. Bởi vì:

+ Những thứ mà dịch vụ giáo dục cung cấp, mặc dù giá trị sử dụng là đặc biệt, nhưng xét về bản chất, nó cũng như các hàng hóa khác. Vì vậy, dịch vụ do giáo dục cung cấp có thể nói chính là hàng hóa.

+ Các kiểu dịch vụ hoặc bản thân hoạt động lao động có giá trị, khi trao đổi trên thị trường, về bản chất, không có gì khác về mặt hình thức so với các hàng hóa khác.

+ Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo – hay nói cách khác – năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi tham gia thị trường.

- Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục – đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa… Nếu quá nhấn mạnh vào vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng trong giáo dục.

Về thị trường giáo dục:

- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất

Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.

- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là vấn đề hạt nhân, là khâu then chốt của việc nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của nó đối với thị trường. Nó được thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau đây:

+ Trong điều kiện sản xuất hiện đại hóa, nhân tài và sức lao động vừa là đối tượng để giáo dục đào tạo, vừa là người lao động trong các ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất hàng hóa; là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về nhân tài chuyên ngành và các loại lực lượng lao động, vừa thể hiện bằng hình thức điều động, phân công của nhà nước, vừa có sự điều tiết bằng quy luật cung – cầu của thị trường.

+ Mối quan hệ nội tại giữa giáo dục với thị trường nhân tài và thị trường lực lượng lao động lại thể hiện ở vai trò của đào tạo nhân tài chuyên ngành và huấn luyện lực lượng lao động chuyên môn sâu. Giáo dục, xét về góc độ thực tế, phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân tài và thị trường lao động chuyên ngành. Nếu lực lượng này đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thời đại, thì chắc chắn sẽ đứng vững trong thị trường cạnh tranh nhân tài và lực lượng lao động.

+ Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là nguồn giá trị nhiều hơn giá trị vốn có của nó như C. Mác từng nói, đại ý là: hàng hóa sức lao động sở dĩ là sản phẩm có sự khác biệt giữa giá trị của bản thân nó và giá trị do nó tạo ra là vì nó có đặc tính riêng biệt, là lực lượng sáng tạo giá trị, là nguồn gốc của giá trị.

- Thị trường khoa học – kỹ thuật

Thị trường khoa học – kỹ thuật gắn liền với 2 yếu tố: thiết bị và công nghệ ứng dụng; con người sử dụng thiết bị và công nghệ đó. ở đây, thiết bị và công nghệ là hàng hóa thì quá rõ ràng, còn người sử dụng thì lại rơi vào thị trường nhân tài và lực lượng lao động như đã đề cập ở trên.

- Thị trường dịch vụ lao động (dịch vụ) C. Mác cũng từng cho rằng: Dịch vụ trường học (chỉ cần anh ta là thứ mà sản xuất cần hoặc có ích); dịch vụ y tế (chỉ cần anh ta bảo đảm được sức khỏe, duy trì tất cả nguồn giá trị tức là bản thân sức lao động), mua dịch vụ này chính là mua hàng hóa có thể bán được, cung cấp bản thân khả năng lao động để thay thế phục vụ bản thân. Dịch vụ này cần thêm phí sản xuất và phí tái sản xuất khả năng lao động. Nói chung, ý nghĩa dịch vụ ở đây chẳng qua là dịch vụ cung cấp hoạt động, giữa giáo dục và thị trường dịch vụ lao động có mối liên hệ mang tính tất nhiên.

Tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực giáo dục

Đối với giáo dục phổ thông, bao gồm:

- Đối với giáo dục mầm non chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện xã hội hóa, thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục mầm non vẫn là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường nhưng phần lớn là chưa ngang giá đối với giáo dục giỏi.

- Đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cấp học phổ cập, bắt buộc, vấn đề thị trường là không đáng kể. Phần thực hiện xã hội hóa cũng không đáng kể. Thị trường có thể tác động hoặc không tác động vào các lĩnh vực như:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục tiểu học là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa. Cho dù là công lập hay ngoài công lập thì vẫn phải thực hiện nhiệm vụ mà trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn là “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau”.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị thì phân công, điều động là hình thức chủ yếu; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường về mức thù lao ở một số trường tư thục hoặc một vài trường quốc tế.

- Đối với giáo dục trung học phổ thông chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện vai trò trách nhiệm của Nhà nước có kết hợp với xã hội hóa, thì thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục trung học phổ thông vẫn chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên ở đây có một phần của vai trò quốc tế.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị, được Nhà nước điều động và phân công và tiền lương theo mức quy định của Nhà nước. Đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi, thương lượng, nhưng phần lớn là sức lao động bỏ ra chưa ngang giá đối với giáo viên giỏi ở một số trường trong nước; có thể ngang giá ở một vài trường quốc tế. Đối với nhiệm vụ quốc tế: thuộc cơ chế thị trường (trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho ở một vài trường học).

- Đối với giáo dục cao đẳng và đại học

+ Về sự nghiệp giáo dục, đây là bậc học đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Cho nên, sự nghiệp giáo dục vẫn phải là đào tạo những con người phục vụ cho đất nước, nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

+ Về hoạt động dịch vụ, người ta cho rằng, ngoài đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chất lượng cao thì chất lượng dịch vụ ở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng. Nhìn vào chất lượng dịch vụ giáo dục ở một trường đại học, có thể đánh giá được năng lực quản lý của nhà trường đó. Vì vậy, lĩnh vực này có mang ý nghĩa hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động:

Đối với các trường công lập, Nhà nước cần quan tâm quản lý và đầu tư để có những con người tài ba phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lực lượng này do Nhà nước điều động, phân công và tiền lương cần được thực hiện như tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đối với các trường ngoài công lập, lực lượng giảng viên làm việc trong khối này có thể chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường nhân tài và lao động. Chính nơi này cũng sẽ góp phần tạo ra thị trường lao động để người lao động khẳng định tài năng và hiệu quả làm việc.

Đối với nhiệm vụ quốc tế, thuộc cơ chế thị trường, trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho.

Với thị trường khoa học – kỹ thuật, đây là lĩnh vực hoàn toàn có thể thị trường hóa, không những trong phạm vi của một nhà trường, một đất nước, mà có thể triển khai ở phạm vi quốc tế.

Tóm lại, xét từ góc độ vĩ mô, giáo dục Việt Nam là một hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó có chú trọng đến việc đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Với lĩnh vực giáo dục phổ thông, do chức năng và nhiệm vụ giáo dục là hết sức đặc trưng, nên thành quả của giáo dục là đa phương diện; trong đó, thành quả của giáo dục đáp ứng nhiệm vụ chính trị là quan trọng nhất và mang tính chất quyết định. Cơ chế thị trường chỉ có thể tác động vào lĩnh vực dịch vụ và hoạt động dịch vụ giáo dục là chính. Riêng đối với khối giáo dục cao đẳng và đại học, thì ngoài lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa, còn yếu tố tài năng và lực lượng lao động thì phần lớn phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước ta; phần còn lại có thể tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

Giảng viên tự “choáng” với thu nhập của mình

Sau khi đăng bài viết “Choáng với thu nhập giảng viên Đại học”, PV  đã nhận được rất nhiều phản hồi từ chính các giảng viên của Đại học Ngoại thương Hà Nội. Không thắc mắc đến những khoản thu ngoài trường (từ việc làm thêm, tư vấn các dự án, …), những giảng viên này cho biết họ “choáng” vì con số thu nhập trung bình/tháng của mỗi giảng viên mà lãnh đạo nhà trường báo cáo Bộ Giáo dục – Đào tạo và đăng công khai trên website của trường. Theo họ, con số trung bình thu nhập 9 triệu đồng/tháng/người hoàn toàn không chính xác.

Trên bảo đúng, dưới khẳng định là sai

Theo báo cáo 174/DHNT-KHTC (do Hiệu trưởng nhà trường – GS,TS Hoàng Văn Châu – ký và đóng dấu ngày 10/05/2010) thì mức thu nhập bình quân của một giảng viên trường ĐH Ngoại thương năm 2009 là 9 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, thu nhập bình quân năm 2009 của cán bộ quản lý trường này là 7,2 triệu/tháng.

Dự kiến mức thu nhập bình quân này trong năm 2010 sẽ tiếp tục được tăng lên, cụ thể là: Đối với giảng viên: trung bình thu nhập là 10 triệu/tháng; đối với cán bộ quản lý: trung bình thu nhập là 8 triệu/tháng.

Báo cáo công khai về thu nhập giảng viên, cán bộ quản lý là một trong những nội dung công khai thu chi tài chính mà Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường bắt buộc thực hiện.

Báo cáo này được công khai trên website chính thức của trường Đại học Ngoại thương nhưng ít được cán bộ, giảng viên chú ý. Cho đến khi bài viết “Choáng với thu nhập giảng viên đại học” được đăng trên VietNamNet, nhiều cán bộ, giảng viên khá bất ngờ với những thông tin này và xuất hiện nhiều ý kiến đa chiều xung quanh các vấn đề được bài báo đề cập.

Riêng với thông tin về mức thu nhập trung bình 9 triệu/tháng/người, nhiều giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ bày tỏ sự thắc mắc, ngạc nhiên về con số mà báo cáo đã đề cập vì khi so sánh với mức thu nhập hiện tại, con số này thực sự là “niềm mơ ước”. Theo các giảng viên, con số trung bình mà nhà trường báo cáo với Bộ GD-ĐT hoàn toàn không trùng khớp với thu nhập thực tế của họ.

Một số giảng viên lâu năm, có học vị, học hàm cao cũng băn khoăn vì sau nhiều năm cống hiến, mức thu nhập của họ mới đạt mức này hoặc vượt mức này, trong khi đó số giảng viên trẻ và có thu nhập 4-5 triệu đồng/tháng của trường chiếm tỷ lệ đáng kể (như vậy phải có người cao vượt hẳn lên, nhưng có đủ bù lại cho nhiều người thấp hơn hay không thì lại là việc khác).

Khi giải thích về điều này, TS Đào Thị Thu Giang, Phó hiệu trưởng trường ĐH Ngoại thương Hà Nội khẳng định: “Con số đó là hoàn toàn chính xác và đúng thực tế”.

Tính toán thế nào?

Để chứng minh con số thu nhập trung bình 9 triệu/tháng/giảng viên là không chính xác, các giảng viên của trường ĐH Ngoại thương cho biết thu nhập của họ có từ các nguồn sau:

Lương theo hệ số nhà nước (trường nào cũng bằng trường nào), có thêm phụ cấp thâm niên, phụ cấp chức vụ nhưng không đáng là bao.

Lương từ nhà trường (tùy từng trường): Khoảng gấp 1,5 lần lương nhà nước trả.

Tiền giảng vượt giờ: Cao nhất khoảng 30 triệu/năm (nhưng theo phản ánh của giảng viên thì đạt được số tiền vượt giờ này phải đi dạy với một mật độ “khủng” và thường không thể duy trì trong thời gian dài được). Trung bình mỗi giảng viên có tiền vượt giờ 10 triệu/năm.

Ngoài ra có tiền nghiên cứu khoa học nhưng tiền này không phải giảng viên nào cũng có vì phải từ Thạc sỹ trở lên mới có cơ hội nhận đề tài, thậm chí bây giờ phải là TS, GS, PGS mới được làm chủ nhiệm đề tài. Nếu chỉ tham gia nghiên cứu cùng thì khoản tiền này không đáng là bao.

Cuối cùng là tiền Tết (khoảng 1 triệu) và tiền hè (khoảng 800 ngàn).

Tính tổng cộng lại rồi chia trung bình ra thì thu nhập hàng tháng từ trường của giảng viên có bằng TS, thâm niên 15 năm (thời gian công tác mà theo nhà trường là ở mức trung bình) là khoảng 7,5 triệu, nếu có chức danh PGS, chức vụ từ Trưởng phòng trở lên là khoảng 9 triệu đồng.

Như vậy, nếu tính thời gian tăng lương trung bình là 3 năm/lần thì cho đến khi về hưu, một giảng viên có bằng TS và chức danh PGS thì thu nhập cũng chỉ đạt tối đa 11 triệu/tháng.

Nếu lấy thu nhập của người cao nhất cộng với người thấp nhất để chia trung bình thì không thể ra con số 9 triệu/tháng (bởi như vậy có nghĩa người có thu nhập thấp nhất là 7 triệu/tháng. Con số này lại càng không chính xác). Hơn nữa, cái cách tính lấy của người cao nhất cộng với người thấp nhất rồi chia đôi là không khoa học và kết quả không phản ánh đúng thực tế. Đó là chưa kể đến việc số người có thu nhập cao trong trường ít hơn hẳn người thu nhập thấp.

Trong khi đó, TS Đào Thị Thu Giang lại cho biết: “Cách tính để đưa ra con số thu nhập trung bình 9 triệu đồng/tháng của giảng viên là dựa trên tổng tất cả các khoản chi cho giảng viên chia cho số giảng viên có mặt bình quân/năm (không kể người đi nước ngoài, giảng viên thử việc). Thu nhập này bao gồm tất cả các khoản: lương, tiền lên lớp, trông thi chấm thi, nghiên cứu khoa học, và các khoản thu khác (kể cả tiền đi họp, dự hội thảo)….”

Nếu tính theo cách này, thì có những khoản cần dùng để đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường, giảng viên không được nhận nhưng vẫn được tính là thu nhập của giảng viên (?!) Mặt khác, trong báo cáo nhà trường không hề cho biết, đây là thu nhập trước thuế hay sau thuế.

Như vậy, đã có sự khác biệt về cách hiểu mức thu nhập trên báo cáo của nhà trường và cách hiểu của giảng viên. Nhà trường đã tính toán căn cứ vào tổng số tiền chi cho giảng viên (kể cả những khoản giảng viên không được nhận) và cũng không trừ thuế thu nhập. Ngược lại, giảng viên chỉ tính theo số thu nhập thực tế đến tay họ.

Sẽ chỉ giải thích nội bộ

Vấn đề đặt ra là: tại sao các giảng viên trong trường lại có ý kiến khác nhau, thậm chí một số có phần khá gay gắt, nếu con số đó hoàn toàn đúng trong thực tế?

Giải thích về điều này, TS Đào Thị Thu Giang khẳng định: “Thông tin đó đã được lãnh đạo các phòng ban kiểm tra trước rồi mới báo cáo lên Bộ”. Tuy nhiên, bà Giang cho biết có điểm cần lưu ý là báo cáo không nêu rõ con số này đã loại trừ các giảng viên đang trong giai đoạn thử việc một năm (?!) nên có thể gây thắc mắc trong số các bạn trẻ.

Hơn nữa, cán bộ giảng viên thường chỉ chú ý tới khoản lương (gồm lương cơ bản và lương tăng thêm của nhà trường) chứ ít khi tính cả các khoản thu nhập không thường xuyên khác do đó có thể nảy sinh ý kiến khác nhau. Bà Giang nhấn mạnh: “Với những ai thấy báo cáo này có vấn đề khúc mắc, nhà trường sẵn sàng giải thích tới từng người, bởi không có vấn đề gì ở đây cả, con số đó là hoàn toàn chính xác.”

han

TS Đào Thị Thu Giang cũng bày tỏ quan điểm: “Mức thu nhập này (9 triệu) vẫn quá ít ỏi so với những gì các giảng viên phải đầu tư để trau dồi kiến thức và so với với khối lượng công việc họ đang làm.”

GS Ngô Bảo Châu không lấy tên mình đặt tên quỹ khuyến học

Chiều ngày 3/9, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi giới thiệu sự ra đời quỹ khuyến học mang tên: Vì tinh thần hiếu học – Theo sáng kiến của GS Ngô Bảo Châu. Hiện tại, chưa có thông tin cuối cùng về số tiền của quỹ, ngoại trừ số tiền được giải thưởng Fields của GS được đóng góp hết cho quỹ là 15.000 đô la Canada. Những người nằm trong ban sáng lập quỹ chưa được thông qua chính thức.


GS Ngô Bảo Châu

Điều đặc biệt ở quỹ học bổng “Vì tinh thần hiếu học” là không định làm cái gì to lớn trước, mà làm thật tốt những việc nhỏ, trao đúng tiền cho những người đang thực sự cần đến nó cũng như các học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, quỹ không tài trợ cho các bạn sinh viên ra nước ngoài học tập được vì hiện tại chưa đủ khả năng tài chính.

GS Ngô Huy Cẩn, bố của GS Ngô Bảo Châu là Giám đốc điều hành quỹ, GS Hà Huy Khoái là Chủ tịch Hội đồng khoa học của quỹ. GS Bành Tiến Long, Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước là đại diện bảo trợ cho quỹ.

GS Ngô Bảo Châu cho biết: “Chúng tôi làm quỹ này vì đây là một thời điểm rất hiếm hoi, khi huy chương Fields được trao cho một công dân Việt Nam và rộng hơn là một công dân của một nước đang phát triển. Vì vậy, nó có thể là sự cổ vũ rất lớn cho thế hệ trẻ.

Quỹ tuyệt đối không có mục đích quảng bá tên tuổi cho người thành lập cũng như các tổ chức và cá nhân tham gia ủng hộ, mà chỉ có mục đích duy nhất là khuyến học và vận động ủng hộ cho công tác khuyến học. Những người cộng tác với quỹ hoàn toàn làm việc trên cơ sở thiện nguyện. Hoạt động của quỹ được đặt trên cơ sở hoàn toàn công khai, minh bạch, có kiểm toán độc lập hàng năm”.

Nếu như các thủ tục thành lập được nhanh chóng thì dự kiến, đến tháng 12/2010, quỹ sẽ bắt đầu trao học bổng đầu tiên cho các bạn học sinh, sinh viên.

Bước đầu, quỹ sẽ tài trợ cho hai đối tượng: Học sinh thi đại học điểm cao, các sinh viên có kết quả xuất sắc nhưng hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đối với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” và tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn” được coi trọng như nhau.

Đối tượng thứ hai là sinh viên, nghiên cứu sinh trong nước. Với đối tượng này, tiêu chí “học giỏi” được ưu tiên hơn tiêu chí “hoàn cảnh khó khăn”. GS Châu có nhấn mạnh thêm là học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách cũng thuộc diện được xét nhận tài trợ tài chính.

Người nhận học bổng có trách nhiệm báo cáo kết quả học tập từng kỳ học cho quỹ.

Ngoài việc tặng học bổng, quỹ sẽ có trách nhiệm tìm một giảng viên đại học làm người đỡ đầu cho sinh viên được nhận học bổng. GS Ngô Bảo Châu cho biết, đây là một nét khác biệt nhiều so với những quỹ khuyến học khác và cũng giống như ở một số nước phát triển.

Người đỡ đầu có vai trò tư vấn cho sinh viên học hành một cách tốt nhất, gợi mở hướng đi trong học tập của sinh viên. Sự hướng dẫn và khuyến khích của người đỡ đầu cũng quan trọng không kém phần vật chất. Quỹ sẽ có hỗ trợ tài chính cho người đỡ đầu. Trong khả năng của mình, quỹ sẽ tài trợ kinh phí và hỗ trợ một số hoạt động nghiên cứu khoa học của người đỡ đầu.

Người đỡ đầu, có trách nhiệm hướng dẫn định hướng cho sinh viên, xác nhận báo cáo kết quả học tập của sinh viên và đưa ra nhận xét làm cơ sở cho việc tiếp tục cấp học bổng cho năm tiếp theo.

Quỹ cũng chấp nhận đóng góp hiện vật làm phần thưởng cuối năm cho các sinh viên nhận tài trợ của quỹ và có kết quả học tập xuất sắc.

Về đối tượng nhận bảo trợ: Hội đồng khoa học của quỹ sẽ hoạt động độc lập, có thẩm quyền duy nhất và tuyệt đối trong việc lựa chọn đối tượng được trao học bổng cũng như lựa chọn người đỡ đầu cho sinh viên nhận học bổng.

Quỹ bao gồm Hội đồng quản lý quỹ, Hội đồng khoa học, Giám đốc điều hành quỹ và các bộ phận chuyên môn.

Giám đốc điều hành có trách nhiệm điều hành chung các hoạt động thường xuyên của quỹ. Giám đốc điều hành do Chủ tịch quỹ đề xuất và được Hội đồng quản lý quỹ chấp nhận.

Danh sách Hội đồng khoa học do Chủ tịch hội đồng khoa học và Giám đốc điều hành đề xuất và được Hội đồng quản trị chấp nhận.

Thành viên Hội đồng khoa học không nhận thù lao từ quỹ, nhưng được cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học, trong khả năng tài chính của quỹ.

Hội đồng quản lý quỹ bao gồm thành viên đại diện cho các nhà tài trợ chủ chốt và thành viên cho Chủ tịch quỹ quy định.

Hội đồng quản lý quỹ quy định mức học bổng phát cho sinh viên, mức kinh phí hỗ trợ hoạt động khoa học cho những người đỡ đầu sinh viên nhận học bổng.

Hội đồng quản lý quỹ đưa ra kế hoạch vận động tài trợ cho quỹ.

Về hoạt động thường niên: Hàng năm sẽ có ba sự kiện chính:

Thông báo rộng rãi về quy chế cấp học bổng của quỹ, thời hạn nộp và xét hồ sơ.

Công bố kết quả tuyển chọn.

Tổ chức một buổi liên hoan chung vào cuối mỗi năm học, với sự tham gia của các nhà tài trợ, các thành viên hội đồng khoa học, các sinh viên nhận học bổng và người đỡ đầu. Đây là dịp để quỹ khen thưởng các sinh viên có kết quả xuất sắc và bày tỏ sự trân trọng đối với các nhà tài trợ, thành viên hội đồng khoa học và người nhận đỡ đầu cho sinh viên. Đây cũng là dịp kêu gọi đóng góp vào quỹ cho năm theo.

Cập nhật theo:Tinmoi.vn

Có nên theo nghề toán?

- Ở Mỹ, nghề làm toán đang được coi là nghề tốt nhất trong số 200 ngành nghề khác nhau. Ở Việt Nam, vào thời điểm hiện tại, hầu hết những người làm toán tức là làm việc trong giới hàn lâm. Nghề làm khoa học và giảng dạy đại học ở Việt Nam nói chung và nghề làm toán nói riêng có thu nhập rất thấp so với các nghề lao động trí óc khác.


Ở Mỹ, nghề làm toán đang được coi là nghề tốt nhất trong số 200 ngành nghề khác nhau (xem http://www.careercast.com/jobs/content/JobsRated_Top200Jobs). Thu nhập trung bình của nghề toán, ở mức 94.000 USD một năm, thuộc loại khá cao tuy không phải cao nhất trong các nghề, và môi trường làm việc của nghề toán dễ chịu hơn hẳn so với nhiều nghề khác.

Tuy nhiên, cần biết rằng, trong số những người được tính là làm toán ở Mỹ, chỉ có khoảng 15% là làm việc ở trong giới hàn lâm (các đại học hoặc viện nghiên cứu toán), còn lại là làm phát triển ứng dụng toán học trong các cơ quan và doanh nghiệp khác nhau, ví dụ như NASA, Hewlett-Packard, hay Goldman-Sachs. Trong số những người làm toán trong môi trường hàn lâm, thì cũng chỉ có một phần nhỏ là nghiên toán lý thuyết thuần túy, phần lớn hơn là nghiên cứu những thứ gần với ứng dụng.

Đó là ở Mỹ. Còn ở Việt Nam thì khác. Vào thời điểm hiện tại, hầu hết những người làm toán tức là làm việc trong giới hàn lâm. Nghề làm khoa học và giảng dạy đại học ở Việt Nam nói chung và nghề làm toán nói riêng có thu nhập rất thấp so với các nghề lao động trí óc khác, trừ những ai có thêm thu nhập từ những nguồn khác, hoặc “sống nhờ vào Tây” (thỉnh thoảng được mời làm việc ở nước ngoài).

Mô tả ảnh.
Thí sinh dự thi ĐH năm 2010. Mùa tuyển sinh năm nay, nhóm ngành kinh tế vẫn là sự lựa chọn của số đông học sinh. Ảnh: Phạm Hải

Phần lớn mọi người phải “bán cháo phổi” và lo kiếm sống quá nhiều, không có thời gian và tâm trí cho nghiên cứu, và cũng không có môi trường làm việc thuận lợi để mà nghiên cứu. Bức tranh nghề nghiệp hiện tại ít sáng sủa như vậy, nên cũng dễ hiểu khi mà số lượng học sinh có năng khiếu về khoa học ngày nay thích đi theo khoa học nói chung và toán học nói riêng khá ít, thậm chí không đủ nhu cầu cho việc đào tạo giảng viên đại học, chứ chưa nói đến nghiên cứu. Trong tương lai, điều kiện ở Việt Nam sẽ tốt dần lên, nhưng phải mất nhiều thập kỷ nữa mới có thể nói chuyện đuổi kịp thế giới.

Nếu bạn rất yêu toán, thì đi theo nghề toán là một trong những chọn lựa hợp lý, vì hạnh phúc là khi được làm cái mình thích. Nhưng đừng nên theo nghề toán chỉ vì nghĩ rằng “nghề toán mới là nghề cao quí”. Có những người thiên vị toán và kiêu ngạo đến mức ví toán như là “ông hoàng bà chúa”. Thế nhưng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, để cho cái đồng hồ chạy được, thì các bộ phận của nó đều phải hoạt động, chứ không thể nói bộ phận này quan trọng hơn bộ phận kia. Không thể coi toán học danh giá (hay kém danh giá) hơn các ngành khác, hay coi toán lý thuyết quan trọng (hay kém quan trọng) hơn toán ứng dụng.

Có thể ví toán học như là con ngựa của bác nông dân. Một con ngựa vô cùng có ích, dùng để kéo cầy, kéo xe, dạo chơi, chạy đua, v.v. Ai cũng có thể sắm cho mình một con ngựa toán học. Giá nó không rẻ nhưng nó sẽ làm việc bù lại cho

Có thể ví toán học như là con ngựa của bác nông dân. Một con ngựa vô cùng có ích, dùng để kéo cầy, kéo xe, dạo chơi, chạy đua, v.v. Ai cũng có thể sắm cho mình một con ngựa toán học. Giá nó không rẻ nhưng nó sẽ làm việc bù lại cho. Có ngựa thì phải chăm sóc, ngựa có tốt mà bị bỏ đói thì cũng gầy còm ốm yếu rồi trở nên vô dụng. Khi làm ngành toán, thì như là “làm con ngựa có ích cho đời”, dù là ngựa thồ hay ngựa đua, nhưng không phải là làm chúa thiên hạ. Những kiểu “tranh luận” như “ngựa mới là quí, giống chó kia có ra gì”, “ngựa thồ mới có ích, ngựa đua chỉ ăn hại”, hay “ngựa đua mới đáng gọi là ngựa” nói chung là vô nghĩa.

Để thành công trong toán học cũng như trong nhiều ngành khác, khả năng ban đầu chỉ là một phần, điều kiện môi trường và sự bền bỉ về sau là điều vô cùng quan trọng.

Tôi trước có một sinh viên cao học người Pháp, học lực rất trung bình khi học cao học và làm nghiên cứu sinh, nhưng sau khi được làm post-doc thêm 5 năm ở một nơi khá tốt và say mê làm việc, bây giờ đã có được những công trình toán lý thuyết tầm cỡ quốc tế rất có ý nghĩa.

Nhưng không phải ai cũng được may mắn như vậy. Tỷ lệ thất bại trong toán lý thuyết khá cao. Có đến 90% các công trình toán lý thuyết trên thế giới là “chìm vào quên lãng” không có sự phát triển tiếp theo và cũng không ai dùng đến.

Bất hạnh của nhiều nhà toán học lý thuyết là bị tắc nghẽn trong nghiên cứu, do thiếu điều kiện hoặc chưa đủ khả năng vượt qua khó khăn.

Chưa kể đến chuyện tỷ lệ bị “dở người” vì làm toán lý thuyết cao hơn là trong các ngành khác. Và kể cả khi thành công, thì thu nhập trong ngành toán lý thuyết cũng khiêm tốn so với nếu thành công trong các lĩnh vực khác. Bù lại, những định lý toán học có thể đem lại sự thỏa mãn tột cùng về mặt tinh thần cho các tác giả của nó.

Khi bạn rất thích toán, thì không nhất thiết phải đi theo toán lý thuyết, mà có thể đi theo toán ứng dụng, học toán để mà ứng dụng. Hầu hết những vấn đề lớn của toán lý thuyết cũng là từ nhu cầu ứng dụng mà ra.

Để thành công trong toán ứng dụng, cần vừa học về toán vừa học về ngành mà mình muốn ứng dụng toán vào đó, chứ không phải chỉ học mỗi toán

Nếu Việt Nam đi theo thế giới, thì ngành toán ứng dụng cũng sẽ trở thành một ngành phổ biến, được ưa chuộng, và có thu nhập cao, trong các ngành.

Để thành công trong toán ứng dụng, cần vừa học về toán vừa học về ngành mà mình muốn ứng dụng toán vào đó, chứ không phải chỉ học mỗi toán rồi lầm tưởng mình biết tất “cứ thế là phán”, thì mới ứng dụng được hiệu quả và tìm được đúng các công cụ toán học cần thiết.

Khi giỏi thì không nhất thiết phải làm lý thuyết mới ra được kết quả lớn, mà làm ứng dụng cũng có thể đem lại những thành tựu rất lớn.

Alan Turing từng nói “tầm nhìn của ta còn rất hạn hẹp mà đã thấy có bao nhiêu việc để làm”. Nhìn xung quanh ta có thể thấy đầy những vấn đề cần đến ứng dụng của toán. Và cũng có thể làm giầu vì toán. Ví dụ tiêu biểu là nhà toán học James Simons, trở thành một trong những đại tỷ phú nổi tiếng nhất thế giới, nhờ áp dụng toán học vào thị trường tài chính.

Toulouse, 26/08/2010

Cập nhật theo:Tinmoi.vn