Posts tagged ĐH Chicago.

ĐH Chicago “hấp dẫn” GS Ngô Bảo Châu

Theo kết quả tổ chức xếp hạng các trường ĐH danh tiếng thế giới QS vừa công bố, trường ĐH Chicago đứng thứ 4 trong các trường ĐH ở Mỹ. Trong ngành toán học, đặc biệt về lý thuyết đại số mà GS Ngô Bảo Châu đang theo đuổi thì ĐH Chicago được đánh giá đứng hàng đầu thế giới.
Trường ĐH hàng đầu thế giới

Trường Đại học Chicago là một trường đại học tư nằm ở khu vực phố Hyde Park của Chicago, Illinois, được thành lập bởi Hội Giáo dục Baptist Mỹ và nhà tỷ phú dầu mỏ John D. Rockefeller năm 1890.

Trường Đại học Chicago tổ chức lớp học đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1892 và là một trong những trường đại học đầu tiên của Mỹ kết hợp giữa cao đẳng nghệ thuật tự do đa ngành Mỹ và đại học nghiên cứu của Đức.

Trường Đại học Chicago nổi tiếng có các phong trào học thuật gây ảnh hưởng như trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, trường phái phê bình văn học Chicago và phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý.

Trường Đại học Chicago cũng là nơi thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo tự lực đầu tiên của thế giới và cũng có báo chí đại học lớn nhất Hoa Kỳ.

Cơ sở chính của Đại học Chicago rộng đến 211 mẫu Anh trong khu phố Chicago của Hyde Park và Woodlawn, cách 7 dặm (11 km) về phía nam trung tâm thành phố Chicago. Phần phía bắc và phía nam của khuôn viên được ngăn cách bởi một công viên lớn Plaisance Midway được xây dựng vào năm 1893 .

Các tòa nhà đầu tiên của Đại học Chicago nằm trong khuôn viên trường tạo nên những khu vực sân rộng phía trong. Các tòa nhà được thiết kế theo kiến trúc Gothic, giống với khuôn mẫu của trường Đại học Oxford. Sau những năm 1940, kiểu kiến trúc Gothic trong khuôn viên trường đã được thay thay thế dần bằng phong cách hiện đại.

Các cơ sở học thuật của Đại học Chicago bao gồm các trường cao đẳng, 4 cơ sở nghiên cứu sau đại học, 6 trường chuyên nghiệp, hệ thống trường trung học…

Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã dành 12 năm để dạy luật hiến pháp tại Trường Luật của ĐH Chicago, 4 năm đầu (1992-1996) ông là giảng viên, 8 năm sau (1996-2004) là giảng viên trưởng.

Ở ĐH Chicago, năm học được chia thành bốn học kỳ: học kỳ mùa hè (tháng sáu đến tháng tám), học kỳ mùa thu (tháng chín đến tháng mười hai), học kỳ mùa đông (tháng một đến tháng ba) và học kỳ mùa xuân (tháng tư đến tháng sáu). Năm học thường bắt đầu vào cuối tháng chín và kết thúc vào giữa tháng sáu. Học kỳ mùa xuân năm 2009, ĐH Chicago có 14.000 học sinh, sinh viên ở các chương trình. Sinh viên quốc tế chiếm khoảng 18% tổng số học sinh, sinh viên, ít nhất 23% học sinh dân tộc thiểu số trong nước đã được học tập tại đây, và 45% là nữ. Những sinh viên học tại ĐH Chicago được ở trong một khu ký túc xá. Hiện có 36 nhà, với trung bình 70 sinh viên trong mỗi nhà. Khoảng 60% sinh viên đại học sống trong trong các ký túc xá trong khuôn viên trường.

Hệ thống thư viện của ĐH Chicago bao gồm 6 thư viện thành phần, có chứa tổng cộng 8,5 triệu cuốn sách về khoa học sinh học, y tế, vật lý, triết học, lịch sử y học, và công nghệ… Thư viện này đứng thứ 12 trong số các thư viện ở Hoa Kỳ. Thư viện lớn nhất của trường là thư viện Regenstein. Việc mở rộng của thư viện dự kiến hoàn thành vào năm 2010.

Khoa học cơ bản được ưu tiên

Theo số liệu đã công bố, năm 2006, ĐHChicago đã dành hơn 305 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. ĐH Chicago cũng giám sát hoạt động của 12 viện nghiên cứu và 113 trung tâm nghiên cứu trong trường. Trong số này có Viện phương Đông (bao gồm một bảo tàng và trung tâm nghiên cứu khu vực phía Đông) do ĐH Chicago sở hữu và điều hành. Ngoài ra trường cũng sở hữu một số Trung tâm nguồn lực quốc gia.


Quang cảnh trường ĐH Chicago

Đã có 85 người đoạt giải Nobel đã từng có mối quan hệ trực tiếp với Đại học Chicago, 17 người trong số họ đã nghiên cứu hoặc trực tiếp giảng dạy tại ĐH Chicago khi họ nhận được giải Nobel.

Khoa toán cùng với ĐH Chicago bắt đầu đi vào hoạt động từ 10/1892. Vị trưởng khoa đầu tiên là ông Eliakim hastings Moore – ông cũng là giáo sư liên kết với ĐH Northwestern. Ông Moore đã ngay lập tức bổ nhiệm Oskar Bolza và Heinrich Maschke vào làm việc cùng mình và ba người họ đã trở thành những hạt nhân cơ bản của khoa toán trong suốt thời kỳ 1892- 1908.

Suốt giai đoạn từ 1892 đến 1908 ĐH Chicago không phải là nơi hấp dẫn đối với việc học cao hơn về toán học.

Từ năm 1892 đến năm 1910, chỉ có 39 sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ toán học tại Đại học Chicago. Từ 1910 đến 1927 việc đào tạo toán học được phát triển mạnh mẽ hơn, trong giai đoạn này có 115 bằng tiến sỹ toán học được cấp. Cuối thời kỳ này, ĐH Chicago trở thành nơi đào tạo chủ yếu những tiến sỹ toán học ở Mỹ.

Một trong những dự án đầu tiên được tiến hành bởi khoa toán là hợp tác với tổ chức World Fair tổ chức đại hội quốc tế các nhà toán học tại Chicago vào năm 1893. Thành công của dự án này đã cho thấy rằng ĐH Chicago và khoa toán có đủ năng lực trở thành cơ sở tổ chức thường xuyên của đại hội các nhà toán học thế giới. Việc công bố thông tin về đại hội được diễn ra dưới sự giúp đỡ của Hiệp hội Toán học New York, và ngay sau đó, với sự cổ vũ mạnh mẽ của Moore, hiệp hội này sau này đã đổi tên thành Hiệp hội Toán học Hoa Kỳ.

Từ 1/9/2010, GS Ngô Bảo Châu chính thức giảng dạy tại khoa toán ĐH Chicago. GS Ngô Bảo Châu từng cho biết anh quyết định giảng dạy tại ĐH Chicago cũng là vì có cơ hội được làm việc chặt chẽ hơn nữa với các đồng nghiệp tại Trường ĐH Chicago. Những đồng nghiệp mà GS Ngô Bảo Châu thường nhắc tới là các GS danh tiếng như Alexander Beilinson, Vladimir Drinfeld, Kazuya Kato…

Ông Robert Zimmer, giáo sư toán học và Chủ tịch ĐH Chicago nói: “Chúng tôi chúc mừng Giáo sư Ngô về Giải thưởng Fields mà ông hoàn toàn xứng đáng. Chúng tôi mong tới lúc đón ông về làm nhân viên mới của khoa toán, khoa có lịch sử lâu dài và uy tín.”

Còn Trưởng khoa Toán, giáo sư Peter Constantin bày tỏ, ông Ngô Bảo Châu đã chứng tỏ được khả năng toán học lớn khi trong năm ngoái ông chứng minh thành công một bổ đề toán mà 30 năm không nhà toán học nào có thể chứng minh được. Giáo sư Constantin thì nói: “Đó là vấn đề toán học thuần túy nhưng nó có liên quan tới cuộc sống bao gồm cả lĩnh vực vật lý năng lượng cao, khoa học máy tính và mật mã.”

Theo thông tin từ Đại học Chicagocác giảng viên đã và đang giảng dạy tại trường đoạt 7 giải Fields trong tổng số 48 giải được trao từ trước tới nay.

GS Ngô Bảo Châu: không phải chúng tôi đòi ưu tiên hơn

- GS Ngô Bảo Châu nói cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ.


Mô tả ảnh.
GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: Hương Giang

Trong buổi gặp gỡ với báo chí sáng nay, cùng các đồng nghiệp làm toán ở Hội Toán học, Viện Toán học Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ câu chuyện về Viện Nghiên cứu cấp cao về toán đang trong lộ trình hình thành, sau khi Chính phủ ban hành chương trình trọng điểm quốc gia về toán học.

Mở đầu buổi gặp, GS Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học giải thích ngay, chương trình trọng điểm này do Bộ GD-ĐT chỉ đạo, không phải chương trình của Viện Toán học.

Thưa GS, viện nghiên cứu cấp cao về toán thuộc sự vận hành của Bộ GD-ĐT thì có thuận lợi và khó khăn gì?

GS Ngô Bảo Châu: Theo tôi hiểu, viện đó có quy chế đặc biệt, độc lập với Bộ GD – ĐT, biên chế sẽ rất ít. Bộ có lẽ chỉ quản về chính sách chung, còn điều hành do ban lãnh đạo của viện.

Khi nhìn vào nhà toán học, cứ tưởng nhà toán học ngồi trong phòng làm việc một mình, cái đó rất quan trọng.

Nhưng động lực chính cho phát triển khoa học, cũng như toán học nói riêng, chính là sự kết hợp với nhau, thậm chí toán học có thể kết hợp với vật lý, khoa học máy tính, sinh học, kinh tế. Một trong những tư tưởng then chốt là sự kết hợp các nhà khoa học có khả năng, điểm trội khác nhau.

Các ngành khác nhau đã đành, các nhà toán học làm việc ở Việt Nam, và các nhà khoa học trẻ đã được đào tạo ở nước ngoài.

Chúng tôi hy vọng, do cơ sở tốt của viện đang hy vọng được thành lập, lôi cuốn họ về Việt Nam làm việc 1 thời gian. Có thể không phải là vĩnh viễn, 6 tháng thôi, nhưng kết hợp, dần cuốn hút để nhiều nhà khoa học về Việt Nam làm việc hơn.

Cá nhân tôi thì công việc chính vẫn làm GS ở ĐH Chicago. Nhưng nếu viện thành lập, từ tháng 6 đến tháng 8, tôi sẽ ở Việt Nam, trực tiếp tham gia vào tổ chức khoa học, làm khoa học ở Việt Nam. Ban lãnh đạo gọn nhẹ, nhưng có trách nhiệm tuyển chọn hồ sơ theo lí lịch khoa học, đề tài nghiên cứu, khả năng hợp tác. Chúng tôi không khuyến khích những người làm việc một mình. Khi có việc quan trọng, tôi sẽ tham gia trực tiếp.

Mô tả ảnh.
GS Lê Tuấn Hoa

GS Lê Tuấn Hoa: Trong đề án ban đầu của ban soạn thảo, viện này có tên là viện đào tạo và nghiên cứu cấp cao về toán. Sau khi đóng góp ý kiến, chỉ còn tên viện nghiên cứu cao cấp về toán. Hiện nay, đang trong quyết định phê duyệt đến lúc có thành lập được hay không thì sẽ có tên khác.

Chương trình này trực thuộc Bộ GD-ĐT vì mục đích phục vụ nhà toán học trong nước, lực lượng trong nước ở các trường; sau này, việc điều phối sẽ dễ dàng. Tất nhiên vẫn có một lượng đáng kể các nhà toán học nước ngoài về làm việc ở viện. Nếu không có sự tương tác như vậy thì không thể có sự phát triển toán học được. Ngay cả các nhà vật lý, sinh học, nếu trong công trình nghiên cứu của họ có sử dụng nhiều về toán thì cũng có thể mời đến để làm việc.

GS Ngô Bảo Châu có thể về nước 3 tháng hoặc ít hơn, nhưng không hạn chế khả năng đóng góp vì những trao đổi qua email là thường xuyên. Việc thành lập càng muộn thì việc GS Ngô Bảo Châu thu xếp được thời gian càng khó. Các nhà toán học đang hăng hái.

Khi viện thành lập thì sẽ có sự khác biệt thế nào với Viện Toán học hiện nay? Trong tương lai, có sáp nhập hai viện hay không?

Mô tả ảnh.
GS Ngô Việt Trung.

GS Ngô Việt Trung: Viện này khó nói.

Viện Toán học là đơn vị hành chính sự nghiệp, tuân thủ quy định hiện hành, nhưng có bất cập rất lớn là không có quyền đào tạo. Ví dụ, chúng tôi phải liên kết với ĐH Thái Nguyên để đào tạo. Vì vậy, cần có viện nghiên cứu với cơ chế đặc biệt, trước mắt cho sự nghiệp đào tạo, cho toán học là các ngành khoa học khác.

Các nước khác cũng tồn tại hai viện song song, như Hàn Quốc. Cái cơ cấu của viện không phải nghiên cứu cố định. Tôi nghĩ, có hội đồng khoa học quyết định. Những người đến đấy học cán bộ trẻ vẫn là cán bộ cơ quan trẻ của mình, nâng cao trình độ chuyên môn.

GS Lê Tuấn Hoa: Hai viện nghiên cứu khác nhau về cơ chế và phương thức hoạt động.

Viện Toán hiện nay có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu làm việc thường xuyên, được trả lương từ ngân sách nhà nước. Còn viện Toán cao cấp sẽ không trả lương. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong thời gian đến làm việc tại viện sẽ không được nhận lương mà nhận một khoản tài trợ nghiên cứu.

Trong thời gian đó, họ không phải giảng dạy, chỉ tập trung cho việc nghiên cứu. Thay vì đi công tác hay nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà toán học có một nơi để nghiên cứu ngay trong nước. Đây là mô hình có thể áp dụng cho nhiều ngành khoa học. Nhưng ngành toán xin được mở đầu , thử nghiệm trước vì kinh phí dành cho toán cũng rẻ, ít tốn kém hơn.

GS.Ngô Bảo Châu: Mô hình này thích hợp với khoa học lí thuyết, không thích hợp với khoa học thực nghiệm. Vì cán bộ luân chuyển thực nghiệm mà máy móc, phải luân chuyển thì không thể thực hiện được.

Chúng tôi tiên phong làm toán học trước không phải là muốn giành cho toán học một tài trợ gì đó. Nếu ngành khác muốn tham gia, chúng tôi rất ủng hộ.

15 năm trước, GS.Hoàng Tuỵ đã xây dựng một đề án thành lập một trung tâm nghiên cứu toán học trong công nghiệp và quản lí, cũng là một một mô hình đặc biệt, rất công phu, cũng đã trình lên trên và được ủng hộ. Rất tiếc là không vượt qua được trở ngại về mặt nhận thức và cơ chế quản lí.

Bây giờ, chúng ta có cơ chế mới. Chúng tôi rất tin và kì vọng vào điều này.

Các nhà khoa học nước ngoài cũng về nước nhiều, nhưng về với tư cáchtham gia một vài công việc nào đó, song lại đi. Chứ trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động khoa học thì chưa có.

Chúng ta cần huy động những trí tuệ đó. Đây là mô hình để họ tham gia, như một tập thể khoa học, tập hợp, tổ chức. Một cơ sở tạo điều kiện cho họ tham gia tổ chức, phát triển toán học.

Ngoài phần đầu tư từ ngân sách Nhà nước, viện có các nguồn tài trợ từ bên ngoài không?


Mô tả ảnh.
GS Ngô Bảo Châu cùng các đồng nghiệp ở Viện Toán học và các trường ĐH. Ảnh: Bùi Tuấn

GS Lê Tuấn Hoa: Nếu chính phủ không có sự quan tâm đầu tư thì không thể thành lập được. Viện KIAS của Hàn Quốc có kinh phí hoạt động một năm là 18 triệu USD. Trong đó 15 triệu USD do chính phủ cấp, 3 triệu USD còn lại do viện tự vận động tài trợ từ cá nhân, doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, chưa thể kỳ vọng nhiều vào sự tài trợ của giới doanh nghiệp hay tài trợ từ xã hội. Ngân sách Nhà nước vẫn phải đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nghiên cứu khoa học cơ bản như toán học.

GS Ngô Bảo Châu: Viện nghiên cứu cao cấp Princeton có một khoản vốn từ tư nhân lên tới 500 triệu USD. Số vốn này được giữ cố định, lấy lãi hàng năm làm kinh phí hoạt động, như trả lương cho 50 GS cơ hữu của Viện, còn những người đến Viện đó làm việc ngắn hạn hàng năm như làm sau tiến sĩ (khoảng 70 người), hay làm nghiên cứu.. thì hoàn toàn do Nhà nước trả lương (qua quỹ NSF của Mỹ). Mỗi năm có hàng trăm các nhà khoa học đến làm việc tại viện.

Một trong những tôn chỉ hoạt động, mục đích của Viện NCCC Princeton là đào tạo sau tiến sĩ. Sau khi làm xong PhD (tiến sĩ), muốn làm việc chuyên nghiệp thì phải làm post doc (sau tiến sĩ). Thời gian làm post doc tạo ra cơ hội học hỏi từ người giỏi gần như số một thế giới, người có khả năng truyền cảm hứng hay có giải đáp nào đó mà có thể thay đổi công việc khoa học của người đó.

Viện IAS của Princeton có được khoản vốn 500 triệu USD là vì họ đã tích lũy trong 70 năm. Bây giờ chúng ta mới thành lập thì không thể làm giống như vậy, đạt được ngay như họ. Vì thế, chúng ta mới phải đặt ra vấn đề có một cơ chế đặc biệt cho hoạt động của viện.

Như GS Ngô Bảo Châu nói, một trong những mục tiêu của viện nghiên cứu cấp cao này là tạo vườn ươm cho các nhóm nghiên cứu. Liệu có tình trạng giảng viên từ các trường ĐH sau khi về viện làm việc một thời gian, nâng cao được trình độ, năng lực, sẽ tiếp tục ra nước ngoài nghiên cứu và không quay về trường cũ? Như vậy liệu có phải là một sự đầu tư lãng phí?

GS Ngô Bảo Châu: Cách giữ người tốt nhất là tạo ra một nơi làm việc, dành cho nhà khoa học một vị trí làm việc tốt. Hiện nay, nhà nước cũng đang đầu tư rất nhiều tiền cho chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Nếu không có chính sách, việc thu hút những người cử đi đào tạo ở nước ngoài về cũng còn khó khăn, nói gì đến những người tự tìm kiếm được cơ hội đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.

Đối với những người được đào tạo ở nước ngoài, thu hút về nước tốt nhất là thời điểm ngay sau khi họ vừa hoàn thành luận án tiến sĩ. Còn sau đó, nếu họ đã ổn định cuộc sống gia đình, công việc ở nước ngoài, việc thu hút họ về hẳn sẽ khó hơn. Việc hình thành một viện nghiên cứu có thể đảm nhận được việc đào tạo sau tiến sĩ ngay trong nước cũng là một điều kiện để thu hút các nhà khoa học sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ trở về Việt Nam.

GS Lê Tuấn Hoa
: Nếu sau thời gian làm việc ở viện nghiên cứu cao cấp về toán, các nhà toán học Việt Nam đủ trình độ, uy tín được các GS nước ngoài nhận đi làm nghiên cứu tiếp thì theo tôi, đó là một điều đáng mừng, đáng tự hào chứ không đáng lo.

Trong bài phát biểu của anh Châu ở Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình có đề cập tới điều kiện cho khoa học phát triển lành mạnh là cần có tự do tuyệt đối. Đặt trong bối cảnh của mình hiện nay, nên hiểu ý của anh như thế nào?
GS Ngô Bảo Châu: Khoa học cơ bản do sự đầu tư, nhà nước có định hướng. Nhưng nếu nhà nước có chỉ định cụ thể, tôi không tin điều đó sẽ giúp cho khoa học phát triển. Tự do tức là việc tự nhà khoa học chọn làm, chứ không phải người khác bảo làm cái gì. Một ví dụ cụ thể, những nơi mà khoa học phát triển, chẳng hạn, Pháp đầu thế kỷ 19, Đức cuối thế kỷ 19 và Mỹ trong thế kỷ này, là những nơi mà tinh thần tự do học thuật đạt đến đỉnh cao.

Cập nhật theo:Tinmoi.vn