Posts tagged đào tạo

Phát triển bền vững hệ đào tạo không chính quy

Trong cuộc thảo luận về chất lượng hệ đại học tại chức vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên, nếu làm như vậy thì đã đi ngược lại với xu thế phát triển thời nay. Đại chúng hóa giáo dục đại học là xu thế tất yếu

Đặc điểm của thời đại hiện nay là sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức. Trong khung cảnh đó nền giáo dục của thế kỷ 21 có những biến đổi to lớn, đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”. Về giáo dục đại học (GDĐH), từ quan niệm trước đây GDĐH chỉ của số ít người thì ngày nay phải dành cho số đông, tức là phải trở thành nền GDĐH đại chúng. Có thể nêu vài ví dụ về xu thế đại chúng hóa GDĐH: Tổng số SV vào đầu thế kỷ 21 ở Trung Quốc chỉ gần 7 triệu, ở nước ta gần 1 triệu, thì nay (2010) Trung Quốc có 30 triệu, nước ta có gần 2 triệu. Tổng số SV trên toàn thế giới năm 2007 là 150 triệu, tăng khoảng 50% so với đầu thế kỷ.

Trong một nền GDĐH đại chúng, cần có nhiều loại hình đào tạo khác nhau. Ngoài loại hình đào tạo thông thường, được gọi là chính quy (CQ), còn có các loại hình đào tạo khác mà ở nước ta quen gọi là tại chức, từ xa …hoặc gộp chung bằng tên gọi là không chính quy (KCQ).

Hệ CQ được tuyển sinh chặt chẽ, phần lớn là học và thi tại trường, ban ngày, đào tạo chủ yếu theo cách mặt-giáp-mặt (người dạy và người học gặp nhau nhiều), thời gian học tập một năm thường 8, 9 tháng …

Còn hệ KCQ, ngược lại, tuyển sinh không chặt chẽ (hoặc chỉ ghi danh học), phần lớn học và thi ở các địa điểm “liên kết” xa trường, học ban đêm, đào tạo chủ yếu theo phương thức giáo dục mở và từ xa (GDM&TX) vì tần suất mặt-giáp-mặt rất thấp, thời gian học trong một năm thường chỉ tối đa vài tháng ở các địa điểm “liên kết”…

Tầm quan trọng của hệ đào tạo KCQ

KCQ là loại hình rất quan trọng của GDĐH ngày nay, vì với yêu cầu không quá khe khắt trong quá trình học nó có thể thu hút được nhiều người học đại học; ngoài ra nó cũng phù hợp với phong cách học suốt đời trong một xã hội học tập. Cho nên, chẳng những số SV đại học có xu hướng tăng như đã nêu trên, mà tỷ số SV KCQ so với SV CQ cũng ngày càng tăng, và trong tương lai GDĐH CQ chỉ phát triển tới chừng mực nhất định, còn GDĐH KCQ sẽ ngày càng mở rộng.

Trong cuộc tranh luận về hệ tại chức (là một bộ phận của hệ KCQ) vừa qua, một số người cho rằng nên hạn chế hoặc thậm chí xóa bỏ hệ đào tạo này vì chất lượng của nó quá thấp. Tuy nhiên vì tầm quan trọng nêu trên của hệ KCQ, chúng tôi cho rằng không nên và không thể tìm cách xóa bỏ hoặc thu hẹp nó, mà phải tìm giải pháp phát triển bền vững hệ KCQ để nó trở thành một nhân tố quan trọng của xã hội học tập ở cấp đại học.

Các biện pháp để phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ

Thế nào là phát triển bền vững hệ đào tạo KCQ? Trong xã hội ngày nay có nhiều loại hình học tập thường xuyên ở nhiều trình độ khác nhau nhằm nâng cao dân trí và cải thiện chất lượng cuộc sống, phần lớn không cần văn bằng, với các loại hình này không cần phải đánh giá nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, hệ đào tạo đại học KCQ lại thường hướng đến văn bằng, do đó cần phải có cách quản lý chặt chẽ, đảm bảo sao cho sản phẩm đào tạo được “dán nhãn” đúng với chất lượng của nó. Có như vậy thì văn bằng của loại đào tạo KCQ mới giữ được uy tín đối với xã hội, và những người theo học KCQ nghiêm túc mới không bị thiệt thòi, khi đó hệ đào tạo KCQ mới phát triển bền vững.

Vậy làm thế nào quản lý chất lượng hệ đào tạo KCQ? Theo kinh nghiệm nước ngoài thường có hai cách.

- Ở các nước phát triển, trong trường đại học thường có hai loại SV: toàn thời gian (full time) và bán thời gian (part time). Hai loại SV này cùng học theo một chương trình, cùng được đánh giá kết quả học tập như nhau, chỉ khác là SV loại sau trong một năm học có thể học ít môn hơn so với loại trước, nên tổng thời gian để hoàn thành đại học phải kéo dài hơn. Từ đó, hai loại SV cùng học một ngành đào tạo ở một trường đại học nào đó phải được cấp cùng một loại văn bằng, không phân biệt toàn thời gian hay bán thời gian, tức là chất lượng SV hai loại hoàn toàn tương đương.

- Ở các nước nước nghèo hơn, vì các trường đại học thông thường không đảm bảo đủ chỗ cho rất đông SV muốn học, chính phủ phải đầu tư cho một vài trường đại học mở tập trung đào tạo KCQ bằng công nghệ Giáo dục Mở và Từ xa (GDM&TX) chuyên biệt để đào tạo cho số đông. Thực chất SV hệ KCQ học tập theo phương thức GDM&TX, không phải theo phương thức “mặt-giáp-mặt” thông thường, do đó muốn đảm bảo chất lượng của GDM&TX phải có công nghệ tương ứng cho GDM&TX chứ không thể sử dụng công nghệ giáo dục mặt-giáp-mặt cộng với những quy định rất dễ dãi như chúng ta đang làm. Công nghệ GDM&TX cũng không có gì là bí hiểm, chỉ bao gồm một hệ thống tài liệu học tập tốt thích hợp và hệ thống công cụ đánh giá chặt chẽ cho mọi chương trình đào tạo đại học, ngoài ra, còn có cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin và truyền thông. Yếu tố quan trọng nhất của công nghệ GDM&TX là đánh giá chặt chẽ kết quả học tập: nếu đào tạo mặt-giáp-mặt sản phẩm đào tạo được đánh giá qua cả một quá trình thì GDM&TX không có điều kiện để đánh giá trong cả quá trình nên buộc phải đánh giá chặt chẽ đầu ra của từng môn học trong chương trình đào tạo.
Đại học mở là cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập

Một số nước gần ta đã rất thành công trong việc áp dụng cách thứ hai nói trên. Ví dụ vào thập niên 1990 hai đại học mở của Thái Lan đã đào tạo khoảng 700 nghìn SV KCQ bằng công nghệ GDM&TX, còn 50 trường đại học thông thường khác chỉ tập trung đào tạo tốt khoảng 300 nghìn SV CQ theo phương thức mặt-giáp-mặt. Sở dĩ chất lượng SV KCQ có thể chấp nhận vì các đại học mở của họ đã xây dựng được hệ thống công cụ đánh giá cho từng môn học của các chương trình đại học, triển khai nhiều lần trong năm rất chặt chẽ như các kỳ tuyển sinh đại học ở ta, ai tích lũy được mọi chứng chỉ đánh giá môn học cho một chương trình đào tạo thì được cấp bằng. Trường Đại học mở Trung Quốc cũng sử dụng hệ thống công cụ đánh giá như vậy để quản lý chất lượng chẳng những của hệ KCQ và còn của các đại học tư. Trung Quốc có khoảng 1400 trường đại học tư nhưng chỉ khoảng 200 trường được cấp bằng sau một quy trình kiểm định chất lượng nghiêm khắc, ở 1200 trường tư còn lại SV theo học nhưng không được cấp bằng: bất kỳ ai muốn có bằng, kể cả những người tự học, thì phải tham gia các kỳ thi từng môn học của đại học mở nói trên. Như vậy các đại học mở chẳng những giúp đảm bảo chất lượng của hệ thống đào tạo KCQ mà còn trở thành cầu nối giữa trường đại học với xã hội học tập và quá trình học suốt đời.

Mong nuốn của Nhà nước và những thiếu sót về chiến lược

Chất lượng thấp của hệ tại chức và hệ KCQ nói chung là một nhức nhối của GDĐH nước ta hàng nhiều thập niên qua. Công luận và cả ở diễn đàn Quốc hội đã nhiều lần bàn đến vấn đề nhức nhối này. Nhà nước cũng đã mong muốn xử lý vấn đề này, thể hiện rõ nhất ở hai Luật Giáo dục năm 1998 và 2005. Thật vậy, Luật GD 1998 quy định khi cấp văn bằng phải ghi hình thức học tập (CQ và KCQ), tuy nhiên, trong Luật GD năm 2005 đã bỏ quy định ghi hình thức học tập nói trên, có nghĩa là phải đảm bảo có sự tương đương giữa hai loại hình đào tạo, giống như hai hình thức toàn thời gian và bán thời gian đã nói trên đây trong GDĐH ở các nước phát triển. Tuy nhiên cho đến nay phần lớn các trường đại học và ngay Bộ GD&ĐT vẫn sử dụng các loại bằng riêng để cấp cho hai hình thức đào tạo CQ và KCQ, lý do là có sự chênh lệch rõ rệt về chất lượng giữa hai loại hình đào tạo đó. Như vậy, mong muốn xóa bỏ sự phân biệt hai loại hình đào tạo của Nhà nước là không khả thi. Bởi vì không thể xóa bỏ sự phân biệt này chỉ bằng một quy định có tính hành chính, mà phải bằng các biện pháp có tính chiến lược.

Trong khi đó, các biện pháp khác liên quan có khả năng giúp giải quyết vấn đề chất lượng của hệ KCQ lại bị bỏ qua. Như trên đây đã nói, thực chất hệ KCQ liên quan đến phương thức GDM&TX chứ không phải phương thức đào tạo mặt-giáp-mặt thông thường. Thế mà cho đến nay phương thức GDM&TX đã không được chú ý. Thật vậy, hai đại học mở của ta được thành lập từ năm 1993 để tập trung cho GDM&TX, nhưng đã bị “bỏ quên”, chưa hề được đầu tư thích đáng nào của Nhà nước cho chức năng này, và đã trở thành các “đại học khép”. Điều đáng tiếc là một đề án phát triển GDM&TX 2005-2010 đã được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2005 nhưng cho đến nay chưa được thực hiện! Tình trạng nói trên thể hiện một khiếm khuyết lớn của chiến lược phát triển GDĐH nước ta. Chỉ cần Nhà nước dành vài phần trăm chi phí cho các trường đại học “đẳng cấp thế giới” chia sẻ cho hai đại học mở thì cũng có thể giúp họ xây dựng hệ thống công nghệ GDM&TX tốt, từ đó hai đại học mở có và các trường đại học khác có thể sử dụng chúng để nâng cao chất lượng đào tạo hệ KCQ.

Giải pháp nâng cáo chất lượng hệ KCQ ở nước ta

Theo các số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT hiện nay thì ở nước ta có khoảng gần 1 triệu sinh viên (SV) hệ KCQ trong tổng số khoảng gần 2 triệu SV, tức là hệ KCQ chiếm khoảng một nửa tổng số SV đại học. Cho nên nâng cao chất lượng của hệ KCQ là một vấn đề quan trọng ở tầm chiến lược.

Muốn nâng chất lượng của hệ KCQ ở nước ta phải có giải pháp cả về công nghệ và quản lý. Về công nghệ, phải xây dựng được công nghệ GDM&TX thích hợp như đã nói trên, còn về quản lý, phải giải quyết cả vấn đề “nồi cơm”, tức là tăng thu nhập cho các trường đại học và phải phân công lại việc đào tạo hệ KCQ.

- Xây dựng hệ thống tài liệu học tập có chất lượng cao và hệ thống công cụ đánh giá thích hợp cho GDM&TX là công đoạn tốn kém mà một trường đại học bình thường khó làm được, Nhà nước phải đầu tư ban đầu thích đáng cho một vài trường làm đầu mối thực hiện, thích hợp nhất là 2 đại học mở. Có kinh phí đầy đủ, các trường này sẽ huy động đội ngũ giảng viên giỏi trong toàn hệ thống GDĐH xây dựng hệ thống nói trên cho mọi chương trình đào tạo đại học.

- Vấn đề tăng thu nhập cho các trường đại học thì rất phức tạp, tuy nhiên không phải không có lối ra. Không thể không tính đến việc nâng lương cho giảng viên đại học, nhưng đó là biện pháp lâu dài. Ngoài ra cần sử dụng cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước, người học và xã hội. Công thức “học phí cao+ hỗ trợ cao” cần được thực hiện: tăng học phí đến mức đảm bảo phần lớn chi phí đào tạo, đồng thời sử dụng tốt quỹ tín dụng SV. Cố gắng tăng thích đáng quỹ tín dụng đó và có biện pháp cấp đúng người cần được hỗ trợ thì có thể tăng học phí lên mức thích hợp. Đây là cơ chế tốt nhất đảm bảo công bằng xã hội. Ngoài ra, cần tăng kinh phí nghiên cứu, đặc biệt cho các trường đại học trọng điểm.

- Cần tổ chức và phân công lại việc triển khai đào tạo KCQ: hai đại học mở đảm nhiệm đào tạo phần lớn SV KCQ bằng hệ thống công nghệ GDM&TX đã được xây dựng tốt, Nhà nước ủy thác cho hai đại học mở triển khai đánh giá các môn học của mọi chương trình đại học nhiều lần trong năm; các trường khác sử dụng hệ thống công nghệ GDM&TX mà 2 đại học mở đã làm đầu mối xây dựng để đào tạo, có thể họ chỉ triển khai giảng dạy, còn SV tham gia hệ thống đánh giá chung của hai đại học mở. Riêng các đại học trọng điểm quốc gia thì không nên đào tạo KCQ mà tập trung cho nghiên cứu khoa học và đào tạo CQ chất lượng cao.

Trên đây là vài ý kiến về một giải pháp tổng thể để giải quyết tận gốc vấn đề chất lượng của hệ KCQ trong GDĐH nước ta, tạo điều kiện cho hệ KCQ phát triển bền vững. Các đại học mở là yếu tố quan trọng làm nòng giúp nâng cao chất lượng hệ KCQ, cũng làm cầu nối giữa hệ đào tạo CQ của GDĐH và xã hội học tập.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy giải pháp này có tính khả thi cao, và chắc chắn sẽ thành công khi có quyết tâm cao của những người lãnh đạo.

Chúng tôi hy vọng vào quyết tâm đó, bởi vì sẽ là vô nghĩa nếu cứ nói đến chất lượng GDĐH mà không kiểm soát được chất lượng của một nửa tổng số SV đại học nước ta.

Theo:dantri

Thành lập thêm 2 trường đại học khối Quân đội

Theo thông tin từ Chính phủ, ngày 23/12, Thủ tướng Chính phủ đã ký các quyết định thành lập 2 trường ĐH trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Ảnh minh họa. Nguồn: Google

Hai trường đại học này được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự, trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Theo đó, Trường ĐH Chính trị được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Chính trị có trụ sở chính tại Bắc Ninh.

Trường ĐH Trần Đại Nghĩa được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự (Vin-hem-Pích) có trụ sở chính tại TPHCM.

Hai trường ĐH trên đều là cơ sở giáo dục đại học công lập, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng và hoạt động theo điều lệ trường ĐH hiện hành.

Bộ GD-ĐT có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện đảm bảo chất lượng trước khi cho mở ngành đào tạo và tuyển sinh.

Theo Dân trí

Thi lại ĐH cần chuẩn bị những gì?

Nhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo các thí sinh và phụ huynh, bắt đầu từ hôm nay, chuyên mục “Tư vấn tuyển sinh” của báo Dân trí sẽ chính thức hoạt động để giải đáp những thông tin liên quan đến đến kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011.

Ngoài việc định hướng thí sinh về xu hướng ngành nghề, chuẩn đầu ra các ngành đào tạo…, chuyên mục “Tư vấn tuyển sinh” sẽ cập nhật những thông tin mới nhất về sửa đổi quy chế thi năm 2011. Để có thể nhận được câu trả lời sớm nhất, các bậc phụ huynh và thí sinh nên gửi câu hỏi gõ tiếng Việt có dấu về địa chỉ email: tuyensinh.dantri@gmail.com.

Hỏi: Cho em hỏi, em là sinh viên năm thứ 2 của trường CĐ, năm nay em muốn thi ĐH lại thì phải làm hồ sơ như thế nào? Em có cần xin xác nhận của trường hay không, nếu xin thì được trường chấp nhận không? Em có cần xin xác nhận của địa phương em đang thường trú không? (xukamoney113@yahoo.com.vn)

*Trả lời:

Theo thông tin mới nhất mà Ban tư vấn nắm được thì về cơ bản quy chế tuyển sinh năm 2011 sẽ không có nhiều sự thay đổi so với các năm trước. Riêng về quy định nộp hồ sơ và đối tượng dự thi thì sẽ khó có sự điều chỉnh.

Theo quy định, sinh viên các trường ĐH, CĐ muốn dự thi lại thì phải được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường. Chỉ khi có xác nhận của nhà trường đồng ý cho em thi lại thì hồ sơ ĐKDT mới hợp lệ.

Tuy nhiên nếu em quyết định thôi học trước thời điểm làm hồ sơ ĐKDT thì không cần phải xin xác nhận. Lúc đó em sẽ trở thành một thí sinh tự do và sẽ nộp hồ sơ theo ĐKDT theo quy định của tuyển Phòng, Sở GD-ĐT hoặc trực tiếp tại các trường ĐH, CĐ.

Đối với việc xin dấu thì dù em thuộc diện được nhà trường đồng ý cho thi lại hoặc là thí sinh tự do đều cần xin xác nhận của địa phương, nơi em đăng ký hộ khẩu thường trú.

Em đang học ĐH ở HN, theo điều kiện chuyển trường trong Quy chế của Bộ GD-ĐT thì em được phép chuyển hồ sơ sang đại học khác ở Ninh Bình. Em muốn chuyển năm thứ 2 ở HN sang năm đầu ở Ninh Bình vậy có hợp quy định không? (maituoithotoisacngot@yahoo.com)

Em nên lưu ý ở điểm này, hiện nay ở hệ thống đào tạo ĐH đang chuyển dần sang đào tạo theo tín chỉ nhưng vẫn có trường đào tạo theo niên chế. Tuy nhiên dù học theo hình thức nào thì điều kiện để được chuyển trường đều như sau. Cụ thể:

Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

- Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập.

- Xin chuyển đến trường có ngành đào tạo trùng hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học.

- Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

- Sinh viên đã dự thi tuyển sinh nhưng không trúng tuyển hoặc có điểm thi

thấp hơn điểm xét tuyển của trường xin chuyển đến trong trường hợp chung đề thi tuyển sinh.

- Sinh viên có hộ khẩu thường trú nằm ngoài vùng tuyển của trường xin chuyển đến.

- Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khoá; Sinh viên đang chịu mức kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.

Thủ tục chuyển trường:
- Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường.

Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận, quyết định việc học tiếp tục của sinh viên như: năm học và số học phần mà sinh viên chuyển đến trường phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Như vậy việc em được có được chuyển từ năm thứ hai ở trường ĐH chuyển đi sang năm thứ nhất của trường ĐH chuyển đến hay không là do hiệu trưởng trường em chuyển đến quyết định dựa vào chương trình đào tạo mà em đã học.

Em là một thí sinh tự do đang làm việc ở TPHCM. Năm nay em muốn dự thi lại ĐH thì cần chuẩn bị những gì? Những điểm lưu ý đặc biệt khi làm hồ sơ ĐKDT ra sao? (nguyenthuha201193@yahoo.com)

Về cơ bản thì quy trình chuẩn bị không khác nhiều so với năm đầu em dự thi. Trước tiên em cần phải tham khảo những thông tin về ngành nghề, phương thức tuyển sinh, khối dự thi…của các trường trong cuốn cẩm nang “Những điều cần biết…”. Cuốn cẩm nang này sẽ được phát hành vào khoảng đầu tháng 3 hàng năm.

Sau khi tham khảo đầy đủ thông tin em phải mua một bộ hồ sơ ĐKDT và điền theo yêu cầu của mẫu sau đó xin dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi em đăng ký hộ khẩu thường trú. Hoàn thành xong khâu này em có thể nộp hồ sơ theo tuyển Phòng, Sở GD-ĐT nơi mình đang cư trú hoặc nộp trực tiếp tại các trường ĐH, CĐ theo đúng thời gian quy định. Ngoài ra nếu em đang ở TPHCM thì có thể nộp hồ sơ ĐKDT tại Văn phòng đại diện của Bộ GD-ĐT ở TPHCM.

Về phần hồ sơ thì em chỉ cần lưu ý một số điểm chính sau: Về mã trường THPT em nên tham khảo lại để tránh việc Bộ GD-ĐT đã điều chỉnh nhưng vẫn dùng lại của các năm trước. Về mã đơn vị ĐKDT thì cần phải đặc biệt lưu ý đến mã dành cho thí sinh tự do và mã dành cho thí sinh vãng lai.

Mã đơn vị ĐKDT dành cho thí sinh tự do áp dụng cho những thí sinh nộp hồ sơ ĐKDT theo tuyến Phòng, Sở GD-ĐT nhưng lại có hộ khẩu thường trú ở địa phương đó. Mã vãng lai áp dụng cho những thí sinh ĐKDT theo tuyến Phòng, Sở GD-ĐT nhưng lại không có hộ khẩu thường trú tại đây.

Ngoài ra khi nộp hồ sơ ĐKDT tại Văn phòng đại diện của Bộ hoặc trực tiếp các trường ĐH, CĐ sẽ có những mã quy định riêng. Em có thể tham khảo trực tiếp các quy định về mã đơn vị ĐKDT ở phần cuối cuốn “Những điều cần biết… năm 2011”.

Em nghe thông tin năm 2011 sẽ có nhiều thay đổi trong tuyển sinh. Chẳng hạn như một số trường sẽ tuyển sinh riêng, quy trình thi sẽ khác với mọi năm…Vậy thực hư thông tin này như thế nào? (sakuzai1106@yahoo.com)

Em không cần phải lo lắng về vấn đề này. Bộ GD-ĐT đã khẳng định, kì thi năm 2011 sẽ không có nhiều thay đổi so với các năm trước. Các trường vẫn tiếp tục thi theo hình thức “3 chung” (chung đề, chung đợt và chung kết quả thi).

Riêng đối với phần quy chế tuyển sinh thì có thể sẽ thay đổi một số quy định để đảm bảo tính chặt chẽ hơn mà thôi.

Ban tư vấn tuyển sinh

Theo dantri.com.vn

HS trường ngoài công lập không được chuyển sang trường công lập

Sở GD-ĐT Hà Nội vừa có văn bản quy định việc chuyển trường đối với học sinh THPT. Theo đó, học sinh đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập.

Sở GD-ĐT Hà Nội yêu cầu các trường thực hiện công khai, đúng quy định, đảm bảo sĩ số học sinh (HS) không vượt quá chỉ tiêu được giao. HS đang học tại các trường ngoài công lập không được chuyển đến các trường công lập, trừ trường hợp ở những nơi HS chuyển đến không có trường ngoài công lập được giám đốc Sở GD-ĐT duyệt cho phép.

HS học thí điểm chương trình THPT tại các trung tâm giáo dục thường xuyên không được chuyển đến học tại các trường THPT công lập hoặc ngoài công lập. HS đang học tại lớp không chuyên không được chuyển đến học lớp chuyên (chỉ tuyển bổ sung HS vào lớp chuyên theo Quy chế của trường THPT chuyên).

HS đã trúng tuyển vào lớp 10 trường THPT công lập phải học ổn định hết cấp tại trường đó. Trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình học tập cần phải chuyển trường, Sở sẽ xem xét, giải quyết căn cứtình hình thực tế (số lượng, chất lượng HS) của trường tiếp nhận.

Không lợi dụng việc chuyển trường để làm thay đổi kết quả học tập và rèn luyện của HS hoặc buộc HS phải chuyển trường.

Đối với học sinh người nước ngoài phải có văn bằng hoặc chứng chỉ tốt nghiệp THCS tương đương bằng tốt nghiệp THCS của Việt Nam. HS đã học ở Việt Nam, sau thời gian học ở nước ngoài, khi về nước phải có bằng tốt nghiệp bậc học đã học ở Việt Nam. Được gia hạn thêm 1 tuổi so với quy định của cấp học.

Chương trình học tập ở nước ngoài phải có nội dung tương đương với chương trình giáo dục của Việt Nam với những môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên. Với những môn thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn, HS phải bổ túc thêm kiến thức cho phù hợp với chương trình giáo dục của Việt Nam.

Những HS đang học dở chương trình của một lớp học ở nước ngoài xin chuyển về học tiếp lớp học tương đương tại trường THPT ở Việt Nam phải được nhà trường nơi tiếp nhận kiểm tra trình độ theo chương trình quy định của lớp học đó.

Thời gian chuyển, mỗi năm học có 2 đợt giải quyết chuyển trường cho HS: đợt 1 (đầu năm học) từ 1/7 đến 15/8; đợt 2 (đầu học kỳ II) từ 2/01 đến 15/1. Trường hợp đặc biệt, ngoài thời gian quy định trên sẽ do giám đốc Sở quyết định.

Nữ thủ khoa xinh đẹp ngại “làm cảnh”

Gặp Từ Ngọc Phụng, thủ khoa đầu ra trường ĐH Ngoại thương TPHCM, người đối diện sẽ buột miệng: “Thủ khoa sao… xinh thế?”. Tấm bằng đẹp và hình thức bê ngoài không chỉ là lợi thế mà cũng là áp lực với cô bạn này.

Học không giấu dốt

Ít ai biết, cô gái Từ Ngọc Phụng vốn rất nhút nhát nên học xong phổ thông cô quyết định thi vào khoa Kinh tế Đối ngoại của hai trường ĐH Ngoại thương và ĐH Quốc gia TPHCM. Đỗ cả hai trường, Phụng chọn môi trường Ngoại thương để khắc phục điểm yếu của mình. Hơn nữa đây cũng là ngành học Phụng có thể phát huy lợi thế về Ngoại ngữ của mình khi cô sử dụng thành thạo tiếng Anh lẫn tiếng Trung từ hồi nhỏ.

Với Phụng, không chỉ việc học mà cả trong mọi việc, để đạt hiệu quả yếu tố đầu tiên là không được giấu dốt. Lúc nào không hiểu bài, Phụng không quên tham khảo ngay thầy cô, bạn bè. Chính điều này giúp Phụng nhận thấy kiến thức của mình còn hạn chế, tạo động lực cố gắng và không cho phép bản thân được thỏa mãn.

Bên cạnh đó, không chỉ học lý thuyết suông, Ngọc Phụng đề cao học phải kết hợp với hành. Ngay từ những năm đầu ở giảng đường, Phụng đã đi gia sư, làm thêm ở các công ty giao nhận, dịch thuật… để củng cố kiến thức. “Học Ngoại ngữ cũng vậy, em rất chăm nghe nhạc, xem phim nước ngoài… để rèn khả năng nghe, nói cho mình hàng ngày”, Phụng cho hay.

Ngoài ra, trong cuộc sống Phụng giữ thói quen lập kế hoạch rất cụ thể cho mọi việc để không đẩy mình vào cảnh việc gì cũng dang dở và tận dụng quỹ thời gian một cách khoa học nhất. 16 năm liền đứng đầu lớp về kết quả học tập, mới đây Phụng xuất sắc trở thành thủ khoa tốt nghiệp với điểm trung bình 8,47 nhưng cô gái xác định rõ đó chỉ là bước khởi đầu.
Xinh cũng là áp lực
Bạn bè quen Ngọc Phụng thường dí dỏm ví cô là “của hiếm” bởi không chỉ học giỏi, Phụng còn được cả… hình thức bên ngoài cao ráo, trắng trẻo và nét mặt rất có duyên. Thế nhưng lợi thế học giỏi và có một bề ngoài “nhìn được” lại là một trong những áp lực lớn với Phụng khi đi làm.

Tiếp xúc với môi trường công việc, Phụng biết không ít người quan niệm người có điểm học cao, tấm bằng đẹp thì chỉ có lý thuyết suông chứ bước vào thực hành sẽ cuống ngay

Ngọc Phụng không phủ nhận, hình thức “tạm ổn” giúp mình dễ dàng kết thân với bạn
bè, đồng nghiệp. Nhưng Phụng cũng phải đối mặt với với không ít cái nhìn thiếu thiện cảm người đẹp thì “đầu ngắn”, chỉ để “làm cảnh”. “Thế nên em phải luôn không ngừng cố gắng hoàn thiện mình để có “át” đi những quan niệm như vậy. Em muốn được mọi người nhìn nhận công bằng thông qua khả năng và những việc mình làm”, Phụng chân thành.

Hiện tại, Ngọc Phụng đang làm việc tại bộ phận Khách hàng doanh nghiệp của một ngân hàng có tiếng với vai trò trợ lý Giám đốc quan hệ khách hàng. Tuy mới “chập chững”, nhưng Phụng đã được giao khối lượng công việc khổng lồ: tư vấn về thị trường, lãi suất, những giải pháp tiết kiệm chi phí; giúp khách hàng giải quyết những vấn đề phát sinh trong nghiệp vụ như thanh toán, giải ngân, bảo hiểm…; viết báo cáo phân tích tài chính và rủi ro của doanh nghiệp; tìm kiếm khách hàng mới.

“Em mới ra trường nên gặp nhiều khó khăn trong đàm phán, thỏa thuận với khách hàng. Nhưng em cũng luôn tự nhắc nhở phải cố gắng hoàn thành tốt mọi công việc được giao để đạt hiệu quả cao nhất có thể”, Ngọc Phụng cho hay. Bởi đây cũng là lúc cô chứng minh khả năng của mình “ngang ngửa” với tấm bằng mình nhận được.

Dự định sắp tới của Phụng sẽ tiếp tục học nâng cao về lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, cô gái trẻ ấp ủ đến năm 30 tuổi sẽ trở thành “bà chủ nhỏ” một cửa hàng về ẩm thực.

Theo:dantri

Đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào giáo dục

Đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục và đào tạo ,trong đó có bậc THPT từ năm học 2010-2011.

Nội dung này đã nhận được ý kiến đồng tình của cán bộ quản lý, thầy cô giáo bậc THPT. Tuy nhiên cũng có không ít băn khoăn, lo lắng về tính khả thi, hiệu quả của nó.

“Bội thực” chương trình lồng ghép

So với chương trình cải cách trước đây, chương trình phân ban ở bậc THPT hiện nay, thì về cơ cấu số tiết, nội dung bài học ở từng môn có phần hợp lý và gọn gàng hơn. Nhưng số lượng các môn học, các hoạt động bắt buộc lại tăng lên, thêm vào: môn tin học, giáo dục quốc phòng và an ninh, hướng nghiệp dạy nghề và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nếu như trước đây, mỗi khối chỉ học một buổi sáng hoặc chiều là đủ thì bây giờ, ngoài học một buổi, mỗi tuần các em phải học thêm từ 1 đến 2 buổi nữa. Ngoài áp lực quá tải về chương trình, học sinh còn chịu thêm những sức ép, đòi hỏi khác của nhà trường, của mỗi thầy cô giáo chủ nhiệm, bộ môn. Như vậy, học sinh đang phải chịu đến mấy tầng bị dồn ép, nhồi nhét về mặt học tập. Nay lại thêm một bộ môn Phòng chống tham nhũng (PCTN) vào nữa thì vô hình trung chúng ta “hành xác” con em đến mức quá đáng. Do đó, theo các chuyên gia soạn thảo đề án có ý đưa nó dạy theo kiểu lồng ghép, tích hợp vào môn giáo dục công dân hoặc các môn học xã hội khác phù hợp với điều kiện giảng dạy của từng môn và không tạo thành các môn học riêng.

Ý này cũng đồng với quan điểm của nhiều cán bộ quản lý và thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy mà chúng tôi có dịp trao đổi, chia sẻ. Thầy Trần Thanh Hậu, giáo viên Sử- giáo dục công dân, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) cho biết: Nội dung PCTN nên đưa toàn bộ vào bộ môn GDCD là hợp lý, đừng nên dây qua các các môn xã hội khác. Nhưng tôi e rằng đưa nó vào môn này thì có phần lõang, vì hiện tại, bộ môn GDCD là một bộ môn có số lượng nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào loại nhiều nhất, nào là bảo vệ môi trường, nào là an toàn giao thông, nào là giáo dục giới tính, nào là sức khỏe sinh sản vị thanh niên…Vả lại ,qua thực tế giảng dạy nhiều năm, chúng tôi nhận thấy, đưa những vấn đề, nội dung dạy lồng ghép, dạy tích hợp vào bộ môn GDCD thường chưa đạt yêu cầu, còn mang nặng tính hình thức. Bởi lẽ, bản thân nội dung, kiến thức ở bài đó, bài kia trong sách giáo khoa, sách giáo viên, thầy cô giáo chưa truyền tải hết được ( do quá dài) thì lấy đâu thời giờ để lồng ghép, tích hợp nội dung đã vào. Lần nào tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề cũng yêu cầu giáo viên phải dạy lồng ghép nhưng thầy cô giáo không dạy thì đành chịu thôi, do chẳng có qui định ràng buộc nào cả, trừ khi có người dự giờ, có thái độ đánh giá nghiêm túc”.

Bỏ một số bài, đưa nội dung PCTN vào

Không chỉ riêng gì môn GDCD, các nội dung, vấn đề dạy lồng ghép, tích hợp đối với môn Ngữ văn ( về bảo vệ môi trường), môn sinh học ( về giới tính, sức khỏe sinh sản), môn lịch sử ( về lịch sử địa phương)… cũng nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế. Xuất phát từ thực tế đấy, nội dung PCTN đưa vào dạy kiểu lồng ghép, tích hợp là không ổn, cần tách ra thành những bài riêng biệt, để dạy những kiến thức căn bản, tập trung hơn, thầy cô giáo khó thể phớt lờ hoặc bỏ qua được. Tất nhiên, cắt giảm bớt một số bài thuộc về chương trình GDCD ở ba khối. Nhiều giáo viên giảng dạy môn GDCD đề xuất: “Các em lớp 10, còn nhỏ quá, chưa cần đưa PCTN vào, nên bắt đầu từ học sinh lớp 11 là thích hợp với nội dung bài và tâm lý lứa tuổi. GDCD lớp 11, dạy về công dân với kinh tế, với các vấn đề chính trị- xã hội, thì bỏ đi bài Chính sách quốc phòng và an ninh, trang 110 ( vì nội dung này được học kĩ ở bộ môn giáo dục quốc phòng và an ninh rồi) , GDCD lớp 12 dạy học các vấn đề công dân liên quan đến pháp luật, các bài 1, bài 2, bài 3 có một số nội dung na ná giống nhau nên gom lại để nhường “đất” cho nội dung PCTN. Mỗi khối một bài, mỗi bài từ 2 đến 3 tiết là quá đủ”.

Có chế độ bồi dưỡng

Bên cạnh giảng dạy nội dung phòng, chống tham nhũng còn cần được tuyên truyền, giáo dục qua nhiều hình thức, hoạt động đa dạng và phong phú khác như hoạt động ngoại hóa, nói chuyện trước cờ, xây dựng tờ tin nội bộ… Để đạt được hiệu quả tốt cho nội dung này, ban soạn thảo đề án phải phối hợp với bộ giáo dục, các trường đại học…phải có sự chuẩn bị tốt từ khâu biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giảng dạy PCTN cho tất các thầy giáo dạy bộ môn GDCD và đội ngũ cán bộ quản lý, ban giám hiệu các trường, lãnh đạo các sở giáo dục( để thành phần này có nhận thức đầy đủ và biết cách điều hành, triển khai thực hiện.).GDCD- một môn học, mỗi tuần chỉ có 1 tiết mà lại có quá nhiều nội dung khác của xã hội nhờ cậy, gởi gắm vào đó cả, thực sự tạo ra những gánh nặng, áp lực lớn đối với các thầy cô giáo môn học ấy. Phần lớn các trường đại học sư phạm lâu nay đào tạo sinh viên vừa dạy lịch sử vừa dạy giáo dục công dân. Khi vào nghề, các trường thường phân công dạy cả hai: môn lịch sử lẫn công dân. Hơn nữa, giáo dục PCTN là một nội dung mới lạ, khó hiểu, khô khan đối với lứa tuổi học sinh bậc THPT, để dạy cho hay, cho được thì không dễ dàng chút nào, đòi hỏi nhiều ở tâm huyết, trách nhiệm và trình độ tay nghề, kiến thức tốt của đội ngũ thầy cô môn GDCD. Thiết nghĩ, Bộ giáo dục cần có chế độ bồi dưỡng thêm cho họ ( vì hầu hết giáo viên dạy sử- GDCD chỉ sống bằng đồng lương hạn hẹp, không thể dạy thêm, dạy phụ đạo như các môn tự nhiên được), nhằm kịp thời động viên, khích lệ, tiếp sức cho họ thêm yên tâm, phấn khởi, say mê với nghề, với học sinh.

Đỗ Tấn Ngọc
Quảng Ngãi

LTS Dân trí - Bài viết trên đây phản ánh đúng băn khoăn của nhiều giáo viên khi phải lồng ghép nhiều nội dung mới vào môn học hoặc đưa thêm môn học mới vào chương trình (như môn Phòng chống tham nhũng) mà thiếu sự chuẩn bị chu đáo. Điều đó dẫn tới tình trạng không bảo đảm chất lượng dạy và học những nội dung mới hoặc môn học mới; hơn nữa, còn làm ảnh hưởng đến chất lượng những môn học khác vì chương trình học phải “lồng ghép” quá nhiều nội dung mà sức tiếp thu của học sinh chỉ có hạn.

Vì vậy, khi đưa thêm nội dung mới vào chương trình giáo dục nói chung cũng như chương trình THPT nói riêng đều cần xem xét toàn bộ chương trình đã quá tải hay chưa, cần bớt nội dung của môn học nào để thêm nội dung mới cần thiết hơn?

Theo Dân trí

‘Không nhân nhượng học sinh đánh bạn, quay clip’

Đề xuất giải pháp cho nạn bạo lực học đường đang đến mức báo động, Giám đốc Sở Giáo dục TP HCM cho rằng, phải quy định giờ ra vào của học sinh trong các quán trà sữa và dùng pháp luật chế tài học sinh đánh bạn.

Chiều 9/12, đăng đàn trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND, ông Huỳnh Công Minh, Giám đốc Sở GD&ĐT TP HCM thừa nhận bạo lực học đường đang đến mức báo động. Lý giải cho tình trạng này, ông cho rằng gia đình bất hòa và mối quan hệ bạn bè thực dụng làm thay đổi lý tưởng sống, bộc phát những hành động thiếu kiềm chế. Tâm sinh lý học sinh thay đổi cũng là một nguyên nhân quan trọng.

“Việc học sinh chọc ghẹo, đánh nhau không phải là mới trong nhà trường. Nhưng càng ngày càng nghiêm trọng bởi các em đánh nhau có hung khí làm chết người, đánh nhau có tổ chức, băng nhóm và ghi hình phát tán, thậm chí có sự tham gia của gia đình”, ông kết luận.

Người đứng đầu ngành giáo dục của thành phố đã kiến nghị lên HĐND nhiều biện pháp và thiết chế quản lý học sinh vi phạm kỷ luật. “Thiết chế tổ chức quản lý ấy phải được thể hiện bằng quy chế luật pháp”, ông Minh nói.

Đồng tình với ông Minh về nguyên nhân của bạo lực học đường nhưng đại biểu Phạm Minh Trí không chấp nhận biện pháp xử lý học sinh bằng quy chế luật pháp. “Tôi không chấp nhận giải pháp như ông Minh nói là cần phải có luật lệ. Ở đây luật lệ không giải quyết được vì những em đó vẫn đang ở độ tuổi vị thành niên hiếu động. Giải pháp tốt nhất là vấn đề tâm lý kết hợp với gia đình”, ông Trí nhấn mạnh.

Còn đại biểu Nguyễn Văn Bạch thì bức xúc: “Đồng chí báo cáo là có cả băng nhóm, vấn đề ở chỗ vai trò của nhà trường như thế nào mà để sinh ra băng nhóm? Việc quản lý của thầy cô giáo ở trong lớp ra sao, có kịp thời phát hiện những băng nhóm đó không? Liệu chương trình giáo dục của chúng ta đã chú tâm đào tạo phẩm chất đạo đức con người chưa?”.

Trả lời chất vấn, ông Minh nhất trí với ý kiến của đại biểu và thừa nhận chưa “làm triệt để được”. Vị lãnh đạo Sở cũng đưa ra đề nghị những nơi kinh doanh như quán trà sữa cần phải có quy định nghiêm ngặt với học sinh như quy định giờ ra vào…

Đưa ra dẫn chứng cụ thể về vụ một nữ sinh lớp 8 bị cởi đồ, tra tấn tại lớp, đại biểu Lê Thanh Hải chất vấn: “Bạo lực học đường như ở trường Mạch Kiếm Hùng xảy ra ngay tại lớp chứ không phải ở ngoài khuôn viên nhà trường. Tôi không hiểu cách quản lý của nhà trường với các em như thế nào? Tôi đề nghị anh cho biết các giải pháp ngành giáo dục trong thời gian sắp tới trong việc quản lý học sinh?”.

Đáp lại, vị giám đốc Sở cho biết: “Chúng tôi được chỉ đạo đuổi học một năm đối với em chủ mưu đánh bạn và em quay phim phát tán lên mạng. Còn giáo viên chủ nhiệm các em bị khiển trách”.

Trước câu hỏi của đại biểu Phạm Quý Cường về biện pháp hữu hiệu đối với vấn nạn trên vì thực tế có em bị đánh rồi không dám đi học, có trường hợp khác bị kỷ luật nghỉ học khi về gia đình thêm hư hỏng…, ông Minh cho biết, do thời gian có hạn nên sẽ có câu trả lời cụ thể với đại biểu Cường sau. “Nếu phát hiện tiêu cực, thì tính nghiêm túc để giải quyết trước sau như một của Sở là không nhân nhượng mặc dù đó chỉ là học sinh”, ông nhấn mạnh.

Tỏ ra hoài nghi về những biện pháp mà Sở GD&ĐT TP HCM đã làm, ông Nguyễn An Bình chất vấn: “Không biết Sở đã có cuộc điều tra tìm hiểu tỷ lệ bạo lực trong học đường ở các trường thuộc hệ thống công lập của mình so với hệ thống trường tư thục ở nước ngoài nhiều hay ít? Nếu đã làm rồi thì kết quả đó cho ta nhìn nhận gì?”

Ngay lập tức, ông Minh đáp: “Khi vụ học sinh đánh nhau ở Hà Nội xảy ra, lập tức chúng tôi tổ chức hội thảo với hơn 400 nhà khoa học và sư phạm về vấn đề này để đánh giá thực trạng bạo lực đó ở mức độ nào để tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Sau đó, chúng tôi có mời lãnh đạo của Bộ GD&ĐT vào tham dự. Và Bộ đã chỉ đạo là in thành kỷ yếu để gửi cho tất cả các trường trên cả nước”.

Ngoài vấn đề “nóng” bạo lực học đường, các đại biểu cũng đã chất vấn Giám đốc Bộ GD&ĐT Huỳnh Công Minh về các vấn đề giáo dục mầm non, trường công lập tự chủ tài chính, vấn đề dạy thêm và học thêm, lương giáo viên quá thấp, việc thu học phí chưa công bằng…

Theo:vnexpress

Nhiều doanh nghiệp cũng “nói không” với bằng tại chức

Không có con số thống kê quốc gia về tỉ lệ có việc làm của sinh viên có bằng đại học tại chức, tuy nhiên, nhiều nhà tuyển dụng cho biết, bằng tại chức trên thực tế không được “chào đón” mặn mà bởi các doanh nghiệp.

Bằng đại học tại chức cũng gặp khó ở doanh nghiệp


Bằng cấp không phải là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà tuyển dụng rất thực tế, họ không đánh giá ứng viên bởi những bằng cấp mà đánh giá thực chất trình độ chuyên môn của ứng viên đó

Một đại diện của Công ty Nhân tài Việt, công ty chuyên tuyển dụng nhân sự cho các doanh nghiệp cho biết, “có khoảng 60-70% các doanh nghiệp vẫn nêu rõ ứng viên xin việc phải có bằng đại học chính quy”.


“Chẳng hạn, những ứng viên có bằng tại chức kế toán rất khó xin được việc làm tại các doanh nghiệp”.


“30-40% các doanh nghiệp còn lại không quan tâm đến bằng cấp của ứng viên mà chú ý đến kinh nghiệm làm việc. Một người có bằng tại chức nhưng có kinh nghiệm làm việc lâu năm, giỏi về lĩnh vực của mình vẫn thắng những sinh viên có bằng đại học chính quy nhưng vừa mới tốt nghiệp”, chuyên gia tuyển dụng công ty Nhân tài Việt tiết lộ.


Chuyên gia này cũng cho biết, không thể phủ nhận là có hiện tượng người có bằng tại chức làm việc không hiệu quả, năng lực kém, nhưng cũng không vì thế mà phủ nhận hoàn toàn những người có bằng đại học tại chức.


Ông Lê Tánh, Tổng giám đốc công ty cổ phần giải pháp thanh toán Việt Nam (VNPay) cho biết, trong quá trình phỏng vấn ứng viên tuyển dụng, ông không để ý đến bằng cấp của người đi xin việc mà nhìn vào năng lực và kinh nghiệm của họ. Theo ông, đối với những doanh nghiệp không thuộc Nhà nước, người ta không nặng nề về bằng cấp mà quan trọng là hiệu quả công việc.


Theo quan điểm cá nhân, ông Lê Tánh đánh giá cao chất lượng của người đã có bằng đại học thứ nhất và đi học thêm một bằng đại học thứ hai hơn là một người chỉ có một bằng ĐH là bằng tại chức.


Đối với công ty nước ngoài hay liên doanh, thậm chí bằng chính quy còn khó cạnh tranh, chứ đừng nói tới bằng tại chức.


Đại diện công ty Navigos Group cho rằng “bằng cấp không phải là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà tuyển dụng rất thực tế, họ không đánh giá ứng viên bởi những bằng cấp mà đánh giá thực chất trình độ chuyên môn của ứng viên đó. Nhưng ngược lại, bằng cấp cũng phần nào phản ánh trình độ học vấn, hoàn cảnh, góc nhìn nhận vấn đề của ứng viên”.


“Đó là lý do vì sao có nhiều vị trí, các nhà tuyển dụng rất thích những người đã du học nước ngoài vì những người du học nước ngoài thường có cái nhìn cởi mở hơn và dễ thích nghi hơn”.


Cần có một kỳ thi chung cho chính quy và tại chức


Đại diện của Navigos Group cho biết: ” Nếu chỉ nhìn vào tấm bằng mà không đánh giá chủ nhân của tấm bằng, thì rõ ràng một tấm bằng đại học chính quy có lợi thế hơn”.


“Nói nôm na theo cách hiểu của nhiều người thì tấm bằng chính quy thể hiện chủ nhân của tấm bằng đó được đào tạo theo chương trình chính quy và tập trung toàn bộ thời gian cho việc học tập, trong khi đó tấm bằng tại chức thể hiện chủ nhân của nó có thể là người vừa đi làm, vừa đi học hoặc là người chưa đến được con đường đại học chính quy. Tuy nhiên, nếu đánh giá về người chủ nhân của tấm bằng thì đôi khi câu chuyện lại hoàn toàn khác”.


Một chuyên gia về tuyển dụng nhân sự cao cấp cho biết những công ty nước ngoài khi tuyển nhân sự cũng không để ý đến bằng cấp của người đi xin việc.


Tuy nhiên, nếu cần nhân sự cho vị trí cao cấp như từ vị trí trưởng phòng trở lên thì chỉ nhìn vào những người đã có bằng cấp từ nước ngoài. Không chỉ có thế, ngoài bằng cấp “xịn”, ứng viên cần phải chứng minh được kinh nghiệm làm việc của mình trong lĩnh vực ứng tuyển.Là một người đã từng du học tại Úc, chuyên gia này cho biết, tại nước Úc, các ngân hàng tuyển nhân sự cực kỳ khắt khe. Chẳng hạn, 1.000 người thi tuyển, họ chỉ lựa được khoảng 50 người mỗi năm. Thậm chí, những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc hệ chính quy của các trường ĐH mới được tham gia thi tuyển.


Theo ý kiến cá nhân của chuyên gia này, việc tuyển những người thật xuất sắc vào các cơ quan Nhà nước là cực kỳ quan trọng. Họ là người làm chính sách, vì thế nếu không giỏi thì cả xã hội sẽ bị ảnh hưởng.


Trong quá trình học tập tại nước Úc, chuyên gia này chứng kiến rất nhiều người phải đi học vào buổi tối vì ban ngày phải đi làm. Tuy nhiên, họ vẫn tham gia cùng một kỳ thi với những người học chính quy và nếu đạt yêu cầu, họ cũng nhận được bằng cấp như người học chính quy.


“Nếu ở Việt Nam, có một kỳ thi chung cho người học hệ chính quy và tại chức và chỉ cấp một loại bằng thì bằng cấp sẽ thực chất hơn rất nhiều”, vị chuyên gia nhận xét.

Theo Vietnamnet

Teen với trào lưu tung clip xấu lên mạng

Thời gian gần đây, việc quay clip, ghi âm rồi đưa lên mạng diễn ra liên tục khiến dư luận bàn tán xôn xao và người trong cuộc cũng khổ trăm bề.

Bỏ qua những vụ tung lên mạng với động cơ lên án tiêu cực, cái xấu (vụ clip bảo mẫu Trần Thị Phụng (Bình Dương), clip ghi lại cảnh CSGT bị tài xế taxi hất lên nắp capô…), bài viết này đề cập thực trạng muốn “chơi nổi” hoặc hạ uy tín, danh dự người khác bằng việc lén quay clip, ghi âm những hành động bạo lực, những lời nói không hay rồi tung lên mạng của một bộ phận bạn trẻ.


Trung tuần tháng 11/2010, dư luận phẫn nộ khi xem đoạn clip các nữ sinh lớp 8 Trường THCS Mạch Kiếm Hùng (quận 5, TP HCM) đánh đập dã man một nữ sinh cùng lớp. Đoạn clip dài hơn 5 phút được quay ở một góc lớp trong giờ ra chơi.

Ba nữ sinh dồn nạn nhân xuống cuối lớp, dùng lời lẽ đe dọa bắt nạn nhân phải cởi áo, rồi vừa chửi mắng thô tục vừa đánh, đá, mặc nạn nhân khóc lóc van xin. Đoạn clip này quay ngày 3/11 nhưng đến ngày 19/11, Ban Giám hiệu của trường mới biết do được phụ huynh cung cấp.

Theo lời khai của các nữ sinh, chỉ vì “nhìn thấy ghét” nên đánh bạn cho bõ tức.

Trước đó, ngày 23/10, cư dân mạng đã “mổ xẻ” việc một nữ sinh Trường THPT Lương Thế Vinh (thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh) bị 5 cô gái làm nhục giữa đường.

Trong clip là cảnh nạn nhân bị các cô gái ăn mặc sành điệu đánh đấm và dùng kéo cắt tóc, xé áo trong tiếng reo hò của một số nam sinh. Bức xúc, một người đi đường lên tiếng thì một thanh niên lạnh lùng nói: “Bác cứ kệ chúng nó”.

Trên đây là hai vụ điển hình gần đây nhất trong rất nhiều vụ tương tự như thế. Những vụ việc ầm ĩ này, hình thức cao nhất các trường áp dụng là đình chỉ việc học một năm đối với các nữ sinh đánh bạn và tung clip lên mạng.

Ghi âm những lời nói khó nghe

Những ngày cuối tháng 9/2010, dư luận xôn xao khi trên mạng xuất hiện đoạn ghi âm lén dài đến 18 phút của một nhóm học sinh chuyên lý Trường THPT chuyên Trần Phú (TP Hải Phòng). Nạn nhân của vụ việc này chính là cô giáo dạy tiếng Anh của họ.

Bức xúc bởi thái độ thiếu tôn trọng, xúc phạm của học sinh, cô giáo đã có lời nói, thái độ ứng xử không phù hợp với môi trường sư phạm và tư thế của nhà giáo. Clip này đã gây những bàn cãi trái ngược nhau về cách hành xử của cô giáo lẫn học trò và cũng gây ra cú sốc tâm lý không nhỏ cho những người trong cuộc.

Mới đây, sau phần công bố kết quả Vietnam Idol, trên một số diễn đàn, blog xuất hiện một đoạn ghi âm những lời nói “không đẹp” dài 15 phút của một thí sinh về một bài báo và ban giám khảo (thí sinh đã dừng cuộc chơi tại đêm gala 5).

“Thủ phạm” sau đó đã thừa nhận do quá bức xúc về những lời lẽ không hay của thí sinh kia nên ghi âm lại để chia sẻ cùng những thí sinh khác. Và cũng vì “quá bức xúc”, “thủ phạm” đã chuyển đoạn ghi âm cho một blogger để rồi khi nhận thức được vấn đề đang diễn ra theo chiều hướng xấu, muốn gỡ đoạn ghi âm xuống cũng không còn kịp.

Thiếu kỹ năng sống?

Theo Thạc sĩ xã hội học Nguyễn Thanh Nga, việc quay phim, chụp hình người khác nhằm phát tán rộng rãi trên mạng đang là trào lưu đáng báo động trong giới trẻ. Đã là mốt thời thượng thì nội dung càng “độc” càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng và vì thế càng tạo điều kiện để thể hiện cái tôi.

Trong khi đó, bạn trẻ thiếu quá nhiều kỹ năng sống căn bản để tự bảo vệ mình trước những trào lưu lệch chuẩn, để mặc cho các cảm xúc tiêu cực kiểm soát hành vi và thái độ của mình, khiến họ trở nên nhẫn tâm hơn nỗi đau của người khác. Đây không chỉ là lỗ hổng về giáo dục nhân cách mà còn là sự thiếu hụt kiến thức trên nhiều phương diện, đặc biệt là hiểu biết về pháp luật.

Đối với người tung clip, hành động này thể hiện sự vị kỷ, hiếu thắng nhất thời, mục đích làm đối phương bị sụp đổ về mặt tinh thần nên chấp nhận cả cách ứng xử mang tính ác nghiệt, không màng suy xét đến hậu quả lâu dài.

Đối với nạn nhân, họ phải chịu những cú sốc nặng nề, căng thẳng về mặt tâm lý vì không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến người thân của họ.Áp lực này có thể khiến họ trầm cảm, rối loạn tâm thần và cảm xúc dẫn đến nguy cơ tự tử khi vượt quá mức chịu đựng.

Còn đối với các bạn trẻ xem clip, nếu thiếu kỹ năng “sàng lọc” trong quá trình tiếp nhận thông tin sẽ dần hình thành sự vô cảm.

Theo Người Lao Động

Sẽ có 8 khu đô thị đại học

Bộ GD-ĐT cho hay, 8 khu đô thị ĐH sẽ là điểm “tập kết” của các trường ĐH khu vực nội thành phải dời đến. Dự kiến mỗi khu đô thị sẽ có ít nhất 3 trường, nhưng không quá 7 trường….

Thí sinh sau buổi thi ĐH. Ảnh: Lê Anh Dũng

Những nội dung liên quan đến việc di dời các trường ĐH ra ngoại thành được Bộ GD-ĐT bàn với các trường ĐH, CĐ sáng 30/11.


Vẫn theo Bộ GD-ĐT, theo quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội dự kiến sẽ có 8 khu ĐH tập trung.

Các khu đô thị ĐH sẽ được quy hoạch ở Gia Lâm (600-650 ha), Đông Anh (100-200 ha), Sóc Sơn (600-650 ha), Hòa Lạc (1.200-1.500 ha), Xuân Mai (600-650 ha), Sơn Tây (300-350 ha), Phú Xuyên (120-150 ha) và Chúc Sơn (150-200 ha).

Về cơ bản, khu ĐH tập trung hạn chế việc chia đất phân lô cho từng trường xây khép kín mà hình thành tổ hợp các trường ĐH, CĐ của 3 hoặc nhiều trường, bao gồm những trường ĐH, CĐ thành lập mới; trường thành lập mới với các trường di dời toàn bộ và di dời một phần từ nội thành ra; các trường di dời toàn bộ từ nội thành ra hoặc các trường di dời một phần từ nội thành ra.

Dự kiến sẽ có 3 tiêu chí xác định trường không phải di dời, trường sẽ di dời toàn bộ và trường sẽ di dời một phần.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga khẳng định, việc di dời một phần hay toàn bộ là bắt buộc, không bàn lùi.

Ba tiêu chí đưa ra lấy ý kiến các trường ĐH, CĐ gồm: Đất đai; Ngành nghề đào tạo; Năm thành lập và xây dựng. Từng tiêu chí được lượng hóa bằng cách cho điểm từ thấp đến cao theo thang điểm 100.


Trường có tổng điểm càng cao thì sẽ có nhiều khả năng cầm chắc vé phải di dời. Bởi, nguyên tắc cho điểm là các điều kiện nào của trường tốt (hoặc đầy đủ, ổn định) thì nhận ít điểm, các điều kiện nào còn thiếu hoặc chưa tốt (chưa đầy đủ, chưa sẵn sàng, còn phải phát triển thêm nhiều) sẽ nhận điểm nhiều hơn…

Theo tính toán ban đầu Bộ GD-ĐT đưa con số, để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng các khu đô thị ĐH tập trung và cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường trong khu ĐH cho khoảng 650.000 – 700.000 sinh viên như dự kiến thì cần vốn đầu tư khoảng 4,9 tỷ USD. Bình quân mỗi suất đầu tư 1 chỗ ngồi học cần khoảng 140 triệu đồng.

Tất cả những vấn đề đặt ra để quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ đến năm 2050 nhưng lại “khống chế” các trường trong vòng 2 tiếng phải “hiến kế” được cách làm hiệu quả. Bài toán nhận được nhiều “lời hứa” sẽ tiếp thu chủ trương về trường lấy ý kiến tập thể mới hồi âm cho Bộ.

Hiệu trưởng Trường CĐ Sư phạm Trung ương Nguyễn Văn Lê cho rằng, trước khi đặt vấn đề di dời – Bộ cần có một cuộc khảo sát tất cả các trường ở mọi mặt xem họ đào tạo đáp ứng nhu cầu như thế nào? sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm không?…

Thực tế, một số trường mới mở xin được đất là do họ có quan hệ đặc biệt. Nhưng cũng có những trường sinh ra với cơ sở vật chất khang trang nhưng chết yểu vì không tuyển được, ông Lê nói. Do đó, chúng ta ban đến chia đất, phân lô trong khuôn khổ hội nghị này là quá ít thời gian và quá sớm.

Theo Vietnamnet